Siddartha Gotama

Lịch sử ĐỨC PHẬT TỔ CỒ ĐÀM TẤT ĐẠT ĐA

Tác giả

LuongTa Chanhphy Manivong

ISBN 0 64634174 x

 



Tượng Sakayamuni Phrachanhdhavimutisuok
Đúc bằng đồng vàng, hiện là pho tượng bằng đồng lớn nhất ở Australia
Cao: 4,5m – Rộng: 3,5m – Độ dày: 2,5m – Nặng: 4,5 tấn
Ngày khởi công: 21/03/1998
Ngày chuyển đi từ Thái Lan: 21/03/1999
Ngày chuyển đến Australia : 04/04/1999
Thiết kế và tài trợ: LươngTa Chanhphy Manivong
“Tôi cầu chúc mọi chúng sinh trên thế gian này hãy cùng sống mạnh khỏe, sống lâu trong niềm hạnh phúc và yêu thương”.
LuongTa Chanhphy Manivong 20 /8/ 1999.




Tác giả của cuốn sách, LuongTa Chanhphy Manivong, là một tăng sĩ Phật giáo người Lào, sinh ngày 21 tháng 3 năm 1921. Ngài gia nhập Tăng đoàn năm lên 10 tuổi và được thọ Cụ túc giới vào ngày sinh nhật lần thứ 21. Khi còn trẻ, Ngài rất thích du hành khắp đất nước Lào để hành nội thiền (Kammathana) và để tế độ cho những chúng sinh muốn được nghe lời chỉ dạy của Ngài. Khi ấy, tại Lào, Ngài đã được ban tặng danh hiệu Đức đạo sư Chanhphy Manivong.

 

 

 

Lời giới thiệu

15

Mười kiếp sống của một Bồ Tát

18

Tiểu sử tác giả

20

Cống hiến công đức

22

Lời của dịch giả

23

Thông điệp của giáo pháp

24

Ấn Độ

27

Chư thiên thỉnh cầu một vị bồ tát đầu thai xuống trần gian để trở thành đức Phật

28

Đức Bồ Tát đầu thai vào dòng họ Thích ca ở thành Ka Tỳ La Vệ

29

Thành Ka Tỳ La

31

Giấc chiêm bao

32

Hoàng hậu Siri Maha Mada xin phép đức vua

33

Biên giới Lumbini

34

Thái tử ra đời

35

Thái tử trở về cung điện

36

Cuộc thăm viếng của hiền nhân Karadhevin

37

Hiền nhân Karadhevin đảnh lễ trước thái tử

38

Hiền nhân Karadhevin và đức vua cùng đảnh lễ trước thái tử

39

Buổi hội họp của các nhà thông thái và bậc hiền nhân trong cung

40

Lời tiên đoán của các vị tiên tri về tương lai của thái tử

41

Mong ước của đức vua Tịnh Phạn

42

Hoàng hậu Siri Maha Maya qua đời vào ngày thứ bảy

43

Di mẫu Nang Maha Passabody

44

Việc dạy dỗ thái tử Tất Đạt Đa

45

Thái tử Tất Đạt Đa học bắn cung

46

Việc học tập từ các thầy giáo và các bậc đạo sư

47

Thái tử Tất Đạt Đa với các môn võ nghệ

48

Thái tử Tất Đạt Đa và tinh thần thượng võ, lòng nhân từ với đối thủ

49

Thái tử và lòng nhân từ đối với loài vật

50

Thái tử lên tám tuổi đã biết nhận thức giá trị cuộc sống

51

Thái tử Tất Đạt Đa và thái tử Thevathat

52

Lòng nhân hậu của thái tử Tất Đạt Đa đối với những sinh linh chịu khổ đau

53

Tình thương của thái tử Tất Đạt Đa đối với con thiên nga

54

Từ chối trao chú chim cho thái tử Thevathat

55

Phán quyết của Pháp đình

56

Lòng nhân từ đã cứu sống chú chim

57

Lễ hội trồng lúa truyền thống

58

Thái tử Tất Đạt Đa tham dự lễ hội trồng lúa truyền thống

59

Vua Tịnh Phạn chủ trì buổi lễ

60

Suy ngẫm của thái tử Tất Đạt Đa về cuộc sống

61

Suy tư của thái tử Tất Đạt Đa về cuộc sống của loài vật

62

Suy tư của thái tử Tất Đạt Đa về diễn tiến của cuộc sống

63

Thái tử Tất Đạt Đa nhận thấy cuộc sống luôn đầy rẫy những khổ đau

64

Vua Tịnh Phạn trở về hoàng cung sau lễ hội

65

Vua Tịnh Phạn bắt đầu lo lắng

66

Những cung điện xây riêng cho thái tử – mỗi mùa một cung điện

67

Vua Tịnh Phạn nói: “Không điều gì có thể làm cho thái tử hạnh phúc ”

68

Buổi hội đàm của các bậc hiền nhân, các nhà thông thái và các quan đại thần

69

Vua Tịnh Phạn đồng ý với kế hoạch

70

Thái tử kén vợ

71

Các nàng công chúa xinh đẹp

72

Thiếu nữ cuối cùng – Công chúa Gia Du Đà La (Yasothara)

73

Công chúa Gia Du Đà La xin phép được nói

74

Vua Tịnh Phạn và lời quân sư của các quan đại thần

75

Lễ hội truyền thống trước lễ cưới

76

Mũi tên trúng đích của thái tử Tất Đạt Đa

77

Cuộc thi đấu kiếm

78

Cuộc thi đua ngựa

79

Thi tài cưỡi ngựa hoang

80

Thái tử Orasun phải đầu hàng trước con ngựa bất kham

81

Thái tử Tất Đạt Đa chinh phục con ngựa hoang

82

Thái tử Tất Đạt Đa chinh phục được trái tim của chú ngựa

83

Thái tử Tất Đạt Đa chiến thắng một cách thuyết phục

84

Lễ thành hôn của thái tử Tất Đạt Đa và công chúa Gia Du Đà La

85

Niềm hạnh phúc tuyệt đỉnh theo suy nghĩ của người bình thường

86

Bức tường thành ngăn cách cung điện với thế giới bên ngoài

87

Những thú vui giả tạo giành cho thái tử

88

Loan báo về chuyến du ngoạn của thái tử Tất Đạt Đa

89

Chuyến du ngoạn của thái tử

90

Sự xuất hiện của bốn vị Đê va trước thái tử

91

Những nỗ lực hòng ngăn lão già lại

92

Thái tử rất quan tâm đến hình hài cải trang của bốn vị Đê va

93

Thái tử Tất Đạt Đa tìm hiểu sự thật về loài người

94

Thái tử Tất Đạt Đa hỏi về “diễn tiến của cuộc sống”

95

Thái tử trở về hoàng cung trong nỗi lo lắng

96

Thái tử nói: "Quy luật tự nhiên diễn ra theo cách riêng của nó"

97

Đức vua Tịnh Phạn nói: "Điều này vượt ngoài vòng kiểm soát"

98

Thái tử Tất Đạt Đa cùng Xa Nặc rời khỏi cung điện

99

Người thợ rèn – Những điều thái tử muốn biết

100

Thái tử Tất Đạt Đa viếng thăm kinh thành

101

Quy luật tự nhiên: sinh – lão – bệnh – tử

102

Thái tử Tất Đạt Đa cố gắng hỏi chuyện người bị bệnh

103

Xa Nặc ngăn không để thái tử Tất Đạt Đa chạm vào người bệnh

104

Những đau khổ tự nhiên: Sinh, bệnh, tử

105

Thái tử Tất Đạt Đa không nguôi nghĩ về những khổ đau của con người

106

Xa Nặc nói với thái tử rằng “Ai rồi cũng sẽ phải chết”

107

Sankhara anicca - khi chết đi, thân xác sẽ tiêu tan hết

108

Thái tử Tất Đạt Đa đặt thêm nhiều câu hỏi cho Xa Nặc

109

Thái tử Tất Đạt Đa suy ngẫm về những điều mới chứng kiến

110

Thái tử Tất Đạt Đa gặp một sư tiểu

111

Mối ràng buộc xuất hiện trong cuộc đời thái tử Tất Đạt Đa

112

Thái tử Tất Đạt Đa tự nhủ: "Đó chính là nguồn gốc của đau khổ"

113

Thái tử Tất Đạt Đa biết rõ những đau khổ trong trái tim chàng

114

Những phát hiện mới của thái tử Tất Đạt Đa về cái đẹp?

115

Khổ đau do Rupa, Rosa, Sadda, Gandha, Bhodhappa và Dhammarom sinh ra

116

Thái tử Tất Đạt Đa đến phòng ngủ của vợ lần cuối

117

Thái tử Tất Đạt Đa buồn bã rời xa cung điện

118

Trước khi xuống tóc, thái tử Tất Đạt Đa tỏ ra rất tự tin

119

Thái tử Tất Đạt Đa tự gỡ mình khỏi những mối ràng buộc

120

Nhờ lòng quyết tâm, thái tử Tất Đạt Đa không hề dao động trước bất kỳ trở ngại nào

121

Mục đích của thái tử Tất Đạt Đa là mang đến hạnh phúc cho loài người

122

Thái tử kiên trì tu luyện

123

Thái tử Tất Đạt Đa nói: "Con người và động vật – tất cả đều có cuộc sống riêng và đều phải đối diện với những nỗi khổ"

124

Ích kỉ tức là không biết đến nỗi khổ của người khác

125

Kẻ bị đưa ra làm vật hi sinh sẽ cảm thấy gì đây?

126

Gieo gió thì gặt bão

127

Sự quyết tâm của thái tử Tất Đạt Đa

128

Thái tử Tất Đạt Đa học đạo với đạo sư Ara Karamakoth

129

Thái tử Tất Đạt Đa đàm đạo với thầy

130

Thái tử Tất Đạt Đa vẫn chưa thu nạp đủ kiến thức để diệt trừ đau khổ

131

Thái tử Tất Đạt Đa học đạo ở ngôi trường thứ hai của đạo sư Oudhaka

132

Cho đến thời điểm này, thái tử đã học đạo của hai thầy giáo

133

Atta Kila Matthanou Yoga – hành xác

134

Tiếp tục tu luyện hành xác

135

Thái tử Tất Đạt Đa bắt đầu tập luyện hành xác

136

Thái tử Tất Đạt Đa - đánh liều bằng mạng sống của chính mình

137

Thái tử Tất Đạt Đa nhịn ăn trong 49 ngày

138

Thái tử Tất Đạt Đa đã hồi tỉnh nhờ uống bát sữa cừu

139

Bài học từ câu chuyện cây đàn ba dây

140

Thái tử Tất Đạt Đa đạt được “sati” (chính niệm) và “panya” (trí tuệ)

141

Thái tử Tất Đạt Đa nói: "Cuộc sống rất đáng quý"

142

Lệnh bà Sousada cúng dường thái tử cơm đề hồ

143

Điềm báo từ chiếc bát vàng bên bờ sông Ni Liên Thiền

145

Mãng xà vương Karanak tỉnh giấc vì tiếng va chạm của chiếc bát vàng

147

Bà La Môn Sodhiya dâng tặng thái tử Tất Đạt Đa tám bó cỏ

147

Tọa cỏ trở thành bảo tọa đắc đạo

148

Những kí ức buồn, lo lắng và những xáo trộn trong tâm trí thái tử Tất Đạt Đa

149

Ngự trên bảo toạ, đức Phật đã đẩy lùi các thế lực đen tối

150-3

Lần thứ hai thái tử Tất Đạt Đa không những phải chế ngự những thế lực trong tâm tưởng mà còn phải chiến đấu với những thế lực ma quỷ từ bên ngoài

154

Tâm trí yên tịnh – khởi đầu của Định (Samadhi)

155

Thái tử Tất Đạt Đa đắc đạo và trở thành đức Phật giác ngộ

156-58

Đức Phật chứng nghiệm "Hạnh phúc giải thoát" (Vimuttusouk)

159-63

Thần Saham Bhrommabodee cầu xin Đức Phật truyền bá đạo pháp

164

Tế độ các vị Pancavakkhy – Năm môn đệ đầu tiên tại rừng Issipattana Mikkhadhayavan

164

Bài thuyết pháp đầu tiên dành cho các vị Pancavakkhy

165-72

Hạ thứ nhất của đức Phật

173-74

Các môn đệ của đức Phật "Sự tuyên bố Tôn giáo Brommajana"

175-78

Đường tới Niết bàn - Luận giải Pháp Tứ diệu đế

179

Đức Phật tế độ cho ba anh em phái Satil

180

Đức Phật tế độ cho đức vua Tần Bà Sa La

181

Đức Phật thọ lĩnh Tòa tịnh xá đầu tiên

182-83

Người con có hiếu

184

Đức Phật giảng giải về những nguyên nhân và thực tế

185

Đức Phật tế độ cho người thanh niên hiếu kính (I)

186

Đức Phật tế độ cho người thanh niên hiếu kính (II)

187

Đức Phật tế độ cho người thanh niên hiếu kính (III)

188

Pháp Ammatta bất tử

189

Xá Lợi Phất gặp đức Assasi

190

Xá Lợi Phất đi theo đức Assasi

191

Lời giải thích từ đức Assasi

192

Bốn điều mà đức Assasi đã nói với Xá Lợi Phất

193

Xá Lợi Phất chứng đạo

194

Khi đã tìm đến pháp đế thì trí tuệ ắt sẽ phát triển một bậc

195

Đức Phật và hai đệ tử - “Pháp là ananta, pháp là vô hình, pháp là bất diệt”

196-97

Buổi thuyết pháp lớn của Đức Phật – Buổi thuyết pháp dành cho 184 các A la hán

198-99

Buổi thuyết pháp dành cho các vị A La Hán vào ngày Maga Puja

200-01

Đức vua Tịnh Phạn thỉnh mời đức Phật trở về

202-03

Đức Phật trở về thành Ka Tỳ La Vệ

204

Đức vua Tịnh Phạn tức giận đứng nhìn

205

Cơn giận của đức vua Tịnh Phạn

206

Khất thực không phải là ăn xin mà là một cách tế độ chúng sinh

207

Đức vua Tịnh Phạn tiếp nhận chiếc bát khất thực từ đức Phật

208

Đức Phật tế độ cho nhà vua và hoàng hậu

209

Đức Phật tế độ cho vợ, hoàng hậu Gia Du Đà La

210

Thái tử Nandha nhận lấy bát khất thực và xuất gia trước ngày hôn lễ

211-12

Đức Phật đưa đức Nandha lên thăm Thượng giới

213-14

Thái tử La Hầu La xuất gia, trở thành sư tiểu đầu tiên của nhà Phật

215-16

Đức Phật trở về hoàng cung tế độ cho vua cha

217

Hoàng hậu Maha Pasabody Gotamy và các bà trong hoàng tộc xin được yết kiến đức Phật

218

Đức Phật từ chối lời thỉnh cầu của hoàng hậu Maha Pasabody

219

Hoàng hậu Maha Pasabody xin được xuất gia

220

Tôn giả Anonh đứng ra giải quyết tình huống

221

Đức Phật từ chối lời cầu xin của Tôn giả Anonh

222

Tôn giả Anonh một lòng cầu xin

223

Tôn giả Anonh kiên trì thỉnh cầu

224

Đức Phật chấp thuận lời thỉnh cầu của Tôn giả Anonh để hoàng hậu Maha Pasabody Gotamy được xuất gia

225-7

Tôn giả Anonh báo tin mừng cho hoàng hậu Maha Pasabody Gotamy

228

Đức Phật và Tôn giả Anonh đàm luận về việc xuất gia của Tỳ khưu ni

229

Sự nghiệp giáo hoá và thuyết pháp của Đức Phật từ Hạ thứ 6 đến Hạ thứ 34

230-3

Devadhat gây chia rẽ Tăng chúng (Hạ 35-36)

234

Devadhat tìm mọi cách lôi kéo con trai của vua Tần Bà Sa La

235

Devadhat xin tách khỏi đức Phật

236

Devadhat khuyến khích thái tử Asartsattrou chiếm đoạt ngai vàng

237

Thuê người sát hại đức Phật

238

Devadhat tự tay sát hại đức Phật

239-40

Kế hoạch mượn voi dữ để sát hại đức Phật

241

Điều luật dành cho tăng chúng - đề xuất của đức Devadhat

242

Lời dạy của đức Phật với tăng chúng

243

Devadhat với kế hoạch thành lập nhóm tăng chúng mới

244

Cái chết của Devadhat

245

Nỗi lo sợ của các tỳ khưu và môn đệ cho sự an nguy của đức Phật

246

Sự nghiệp giáo hoá của Đức Phật từ Hạ 37 đến 45

247-48

Nhập hạ trên thượng giới, ở cõi trời Đạo Lợi tế độ Phật mẫu

249

Ngự về trần gian sau lễ nhập hạ

250

Dùng phép mở ra tam giới: Âm phủ, Thượng giới và Hạ giới

251

Đức Phật nhập hạ tại rừng Lelai

252-3

Đức Phật nhận sự chăm sóc của voi và khỉ ở rừng Lelai

254

Khất thực để độ chúng sinh

255-6

Ngự thăm theo lời thỉnh cầu của các phật tử

257

Giáo huấn chư Tỳ khưu

258

Những thắc mắc của Tỳ khưu

259

Thuyết pháp và tế độ chúng sinh

260

Việc tắm của đức Phật

261

Tế độ các Quốc vương cùng quần thần

262

Bốn tư thế thiền của đức Phật: đi - đứng - ngồi - nằm

263

Đức Phật từ bi với tất cả chúng sinh

264

Đức Phật soi sáng cho chúng sinh và những kẻ tìm đến với Pháp đế

265

Tìm nơi nhập Niết bàn

266

Ngự đến nơi nhập Niết bàn

267

Đức Phật đổ bệnh nặng

268

Hạ thứ 45 của đức Phật

269

Lời dạy của đức Phật với Tôn giả Anonh

270

Đức Phật quyết định nhập Niết bàn

271

Tôn giả Anonh cầu xin Đức Phật tạm lui ngày nhập Niết bàn

272

Lời dạy cuối cùng của đức Phật với Chư tỳ khưu

273

Rời thành Vesaly

274

Bữa ăn cuối cùng của đức Phật tại nhà của Jundha

275

Trên đường đi, tế độ Pukkussa

276

Tư thế ngủ của Đức Phật

277

Nỗi buồn của Tôn giả Anonh

278

Đức Phật không thấy Tôn giả Anonh

279

Đức Phật khen ngợi công lao của Tôn giả Anonh

280

Thỉnh cầu đức Phật chuyển nơi nhập Niết bàn

281

Thông báo lễ nhập diệt của đức Phật

282

Đức vua đau buồn khi nghe tin đức Phật nhập diệt

283

Những nghi vấn của Souphatthapariphasok

284

Souphatthapariphasok nài xin được vào vấn an đức Phật

285-6

Souphatthapariphasok xin được xuất gia

287

Tỳ khưu Souphatthapariphasok – Môn đệ cuối cùng của đức Phật

288

Lời dạy cuối cùng của đức Phật

289-90

Đức Phật nhập diệt

291

Lễ hoả táng đức Phật

292-5

Những việc xảy ra trong bảy ngày sau lễ hỏa táng đức Phật

298-99

Danh sách những người có đóng góp vào việc biên soạn cuốn

300

“Lịch sử đức Phật Cồ Đàm Tất Đạt Đa”, tác giả LuongTa Chanhphy Panyano Manivong Hội nghị đầu tiên của chư tăng

301

Ảnh Ngài LuongTa Chanhphy Panyano Manivong

302-4

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Mục đích chính của tôi khi biên soạn cuốn sách “Lịch sử Đức Phật Tổ Cồ Đàm Tất Đạt Đa” là muốn cuốn sách trở thành một nguồn tài liệu để các thế hệ sau này, các chư vị Phật tử và những người hành đạo có thể đọc và cảm nhận nó, cũng như dùng trí tuệ của mình để hiểu rõ những điều cơ bản của một chân lý đã tồn tại bấy lâu nay. Ngoài ra, tôi cũng muốn bạn đọc hiểu được ý nghĩa của từ "Tình Yêu", một từ bao hàm rất nhiều ý nghĩa. Chẳng hạn, "Yêu nền văn hoá của một nước cho ta thấy được tính dân tộc của người ấy; "Yêu quý bản thân" là để làm cho bản thân trở nên trong sạch, không bị vướng vào bụi trần. Có rất nhiều cách để thể hiện Tình yêu:

"Tình yêu nội tâm" giúp con người từ bỏ những cám dỗ và ảo tưởng để sống một cuộc sống đạo đức;

"Yêu thích sự mở mang" giúp con người trở nên siêng năng học hỏi;

"Yêu thích sự khoẻ mạnh" hướng con người quan tâm nhiều hơn đến tâm trí tinh thần để luôn được vui vẻ và toại nguyện, đến chế độ ăn uống và nghỉ ngơi hợp lý.

"Yêu thích sự tiến bộ" hướng con người tìm đến những nấc thang cao hơn trong học vấn.

"Yêu thích sự lịch thiệp" hướng con người tránh xa những lời lẽ và cách cư xử thô tục;

"Yêu thích sự hài lòng" giúp con người gạt đi mọi sự bất mãn;

"Yêu quý bản thân" cũng giống như tình yêu đối với vạn vật. Nếu muốn biết tất cả mọi điều thì tâm trí anh ta lúc nào cũng phải vận động theo sự vận động của sự vật.

"Không nghe theo ai, chỉ nghe theo lẽ phải"

"Không nghe theo ai, chỉ nghe sự thật"

"Không tin ai, chỉ tin vào sự thật"

"Không hành động theo người khác, chỉ hành động theo lẽ phải"

"Nghe theo lẽ phải chính là nghe theo Giáo pháp của Phật"

"Nghe theo lẽ phải chính là chấp hành theo Pháp luật của nhà nước"

"Tin vào lẽ phải tức là tin vào Giáo pháp của đức Phật, cũng có nghĩa là tin vào những nguyên tắc của Pháp đế"

"Không hành động theo người khác mà nên làm những việc chính nghĩa hoặc những việc mang lại lợi ích cho bản thân, cho tôn giáo sắc tộc và cho đất nước mình, cho nền văn hoá và gia đình cũng như cho một xã hội luôn tồn tại trong khuôn khổ những luật lệ và nguyên tắc, tức là luật pháp đã được toàn thể nhân dân và xã hội đó thừa nhận."

"Yêu thích Đạo Phật thì phải thực hành theo Giáo pháp của Phật. Những giáo pháp đó dạy chúng ta về giá trị và sự bình đẳng trong cuộc sống của muôn loài, bao gồm cả cuộc sống của loài vật, không phân biệt nguồn gốc xuất thân. Mọi loài đều có chung một số mệnh: cùng sinh ra trên trái đất này, cùng già đi và cùng phải chịu ốm đau bệnh tật. Như vậy, không có sự khác biệt nào, ngoại trừ một khác biệt duy nhất, đó là cuộc sống con người là của con người còn cuộc sống loài vật là của loài vật."

"Yêu thích Đạo Phật thì nên hành thiền và làm theo giáo pháp của đức Phật. Khi gặp bất kỳ chuyện đau khổ nào, người ấy phải nỗ lực để loại bỏ những đau khổ đó đi. Khi có bất cứ niềm hạnh phúc nào trong cuộc đời, người ấy phải luôn luôn bảo vệ và duy trì hạnh phúc đó.

Nếu có trí tuệ nào chưa chứng ngộ được, ta phải kiên trì luyện tập và hành thiền cho đến khi chứng ngộ được trí tuệ ấy mới thôi. Nếu có chính niệm (Sati) nào chưa chứng ngộ được thì phải tích cực luyện tập không được dễ duôi, khi đã chứng ngộ được chính niệm đó thì phải hướng suy nghĩ đến những điều cao đẹp. Khi tâm thức (Cita) bị dao động, phải nỗ lực diệt trừ mọi phiền não, bất mãn, rối loạn. Nếu tâm thức không có căn nguyên của nó thì ta phải tích cực hành thiền để loại bỏ những phiền não và tâm thức chán nản đó đi.

Khi tâm thức đã được an tịnh, cơ thể cũng sẽ được an tịnh, đó là lúc trí tuệ được nâng lên một bậc. Như vậy có thể kết luận rằng "loài người là cao quý nhất" vì một người thông minh có thể chứng ngộ được bất cứ điều gì mà người ấy mong muốn trong cuộc sống. Kết quả là, đau khổ bị diệt trừ và thay vào đó là hạnh phúc sẽ đến. Người ấy sẽ thấy được cõi Niết bàn, chinh phục được Brommajana và chứng quả A la hán. Đây là cách mà đạo Phật đã chỉ cho chúng ta thấy rằng chúng ta phải tự suy xét chính mình. Đây cũng chính là cách đạo Phật dạy con người tự bảo vệ mình để thoát khỏi đau khổ

"Yêu quý bản thân sẽ phát triển được tâm thức"

"Yêu gia đình sẽ mang lại sự thịnh vượng"

"Yêu quê hương đất nước sẽ giúp phát triển cộng đồng"

"Yêu đền chùa và tôn giáo sẽ góp phần bảo tồn đền chùa và tôn giáo đó"

"Yêu đất nước thì phải trở thành một công dân tốt và biết tôn trọng luật pháp"

"Yêu rừng cây sẽ góp phần tạo nên một thiên nhiên giàu đẹp"

"Yêu sông suối sẽ góp phần làm phong phú các loài thuỷ sinh"

"Yêu đồng ruộng sẽ góp phần tạo ra nhiều nông phẩm"

"Yêu cha mẹ nhắc nhở con người về lòng biết ơn"

"Yêu thầy cô giáo khiến con người siêng học"

"Kính trọng các tăng sĩ Phật giáo thì phải lắng nghe và thực hành theo giáo pháp của đức Phật. Đây chính là nguồn gốc lịch sử của Đạo Phật do thái tử Tất Đạt Đa khám phá ra và mang đến cho chúng sinh của cả “Năm thế giới” và là tôn giáo đã và đang được thực hành cho đến tận ngày nay"

Vì lí do này, tôi đã biên soạn cuốn sách theo những nguyên tắc của Đạo Phật đã được chúng sinh của cả “Năm thế giới” thừa nhận. “Năm thế giới” gồm có "thế giới của Bhromma, Deva, Naga, Yomma và thế giới con người"

Namo Puphang Khama Dhamma * Mano Settha Mano Maya *
Manasace Pathutthena * Tatonang Dhukkhaman Veti * Cakkang VavaHatopathang 1

Nghĩa là:  

Trong tất cả các Pháp, Trí tuệ là quan trọng nhất, được xếp ở vị trí lãnh đạo. Thành công tại trí. Nếu một người có tâm hồn không trong sáng, thì dù trong hành động hay lời nói, người đó đều phải chịu Dhukkha (khổ) là điều mà con người luôn luôn phải đối mặt trong cuộc sống. Điều này cũng tương tự trường hợp những cái bánh xe của một chiếc xe bò, những bánh xe đó chỉ biết lăn theo con bò, bò dừng thì bánh xe cũng dừng.

Namo Puphang Khama Dhamma * Mano Settha Mano Maya * Manasace Pathutthena
Tatonang Dhukkhaman Veti * Cakkang Vava Hatopathang * Sayava Anupayini

Nghĩa là:

Trong tất cả các Pháp, Trí tuệ là quan trọng nhất, được xếp ở vị trí lãnh đạo. Thành công tại trí. Nếu một người có tâm hồn trong sáng thì dù trong hành động hay lời nói, người ấy cũng được hưởng an vui hạnh phúc. Có thể ví với cái bóng, lúc nào cũng đi theo vật chủ của nó.

Được sưu tập trong chuyến hành đạo lần thứ hai tại nơi cư trú của ông Khampoua Naovarangsy và ông Thou Maharath, những người ủng hộ đắc lực và những vị Phật tử khác trong suốt chuyến du hành sang nước Mỹ lần thứ hai.

70/72 Linwood Street, Malden, Massachusetts 02148-7127
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - Boston, 1 tháng 1 năm 1998
LuongTa Chanhphy Panyano Manivong

 

 

Mười kiếp sống của một Bồ Tát

Bây giờ tôi xin được giải thích ngắn gọn về lời giảng đạo của tôi liên quan đến mười kiếp sống của một Bồ Tát để thế hệ trẻ có cơ hội được đọc và lưu truyền cho các thế hệ sau nữa.

 

Tu tích Ba la mật trong mười kiếp sống cuối

Mười kiếp sống cuối cùng của vị Bồ Tát (sau này đầu thai thành thái tử Tất Đạt Đa) trước khi trở thành Phật có thể được tóm tắt như sau:

1.  Phra Teme – Tích lũy Xuất gia Ba la mật ( Nakkemma Paramee ), chịu đựng vô vàn đau khổ trong 16 năm để Ngài có thể tiếp tục công cuộc kiếm tìm Mokha Dhamma để đương đầu với đau khổ;

2. Phra Mahasadock – Tích lũy Tinh tấn Ba la mật ( Viriya Paramee ), Ngài được đặt trên một cái bè, thả trôi lênh đênh, Ngài đã chống chọi với phiền não và cuối cùng đã thoát khỏi tình cảnh khó khăn;

3. Phra Chao Souvannasam – Tích lũy Tâm từ Ba la mật ( Metta Paramee ), để mọi chúng sinh trên thế gian cùng nhau sống hạnh phúc và biết nhận thức giá trị của cuộc sống mà không gây phiền hà đến nhau;

4. Phra Chao Nemerath – Tích lũy Phát nguyện Ba la mật ( Adahithana Paramee ) để dạy mọi người cách tạo nghiệp thiện và biết xấu hổ khi gây ra nghiệp ác.

5. Phra Chao Mahosoth - Tích lũy Trí tuệ Ba la mật ( Panya Paramee ) để chỉ dạy mọi người cách sống có kỷ luật, chứng ngộ được các nguyên tắc của Phật pháp, điều gì đúng, điều gì sai, thế nào là nghiệp thiện ác và hiểu được điều gì mang lại lợi ích cho bản thân và cho người khác;

6. Phra Chao Phouridhat – Tích lũy Trì giới Ba la mật để dạy mọi người cách kiềm chế các hành động trả thù, không gây hiểu lầm, không ngoại tình, không nói lời giả dối, không ăn cắp hay lấy những vật thuộc sở hữu của người khác mà không xin phép;

7. Phra Chao Chandhakoumarn – Tích lũy Nhẫn nại Ba la mật ( Khanti Paramee ) để dạy mọi người biết nhẫn nhịn, hành động hợp lý và sống chân thật, sống thanh tịnh;

8. Phra Chao Rattanaphol – Tích lũy Tâm xả Ba la mật ( Upekka Paramee ) để dạy mọi người biết cách tự kiềm chế không vi phạm Giới luật, không ích kỉ và trên hết là phải chân thành và trung thực, phải biết cách tha thứ;

9. Phra Chao Vithoul – Tích lũy Chân thật Ba la mật ( Sacca Paramee ) để dạy mọi người biết cách cẩn trọng, luôn tỉnh táo, không nói quá về bản thân và quan trọng nhất là phải duy trì nguyên tắc sự thật;

10. Phra Vetsandorn – Đây là kiếp sống thứ 10 của vị Bồ tát. Trong kiếp này, Bồ tát đã tích lũy Bố thí Ba la mật ( Dhana Paramee ), mục đích là để dạy cho mọi người biết cách tự giải thoát cho bản thân, ví dụ:

“Tháo bỏ sợi dây khỏi cổ – Bố thí con cái”

“Tháo bỏ sợi dây khỏi tay – Bố thí người vợ”

“Tháo bỏ sợi dây khỏi chân – Bố thí tài sản”

Thêm vào đó, thực hành Ba la mật cũng là cách để chỉ dạy con người biết tôn kính cha mẹ, thầy giáo, dạy các cặp vợ chồng biết sống trong giới hạn của các giá trị truyền thống, thành thật với nhau, biết tiết kiệm, biết cẩn thận khi dùng đồ của người khác, biết tạo nghiệp lành để có được hạnh phúc trong kiếp sống hiện tại và cả các kiếp sau này. Đây là mười kiếp sống cuối cùng của một vị Bồ Tát và kiếp sống thứ 10 Ngài sống cuộc đời của Phra Vetsandorn . Ngay sau kiếp sống này, Ngài xuống hạ giới đầu thai thành thái tử Tất Đạt Đa.

Thái tử Tất Đạt Đa đã từ bỏ cuộc sống sung sướng trong cung điện và bắt đầu cuộc tìm kiếm Mokkha Dhamma cho đến khi đắc quả Giác ngộ mà không cần sự hướng dẫn của bất kì vị đạo sư nào. Những cái tên Cồ Đàm, Tất Đạt Đa và Phật đều cùng nói về một người.

Phra Boromma Srionxay chính là vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Phoutsady chính là hoàng hậu Siri Maha Maya. Hai vị này là cha và mẹ của đức Phật.

Nang Matdhy chính là Nang Phimpha (Gia du đà la), vợ của thái tử Tất Đạt Đa. Thao Saly là La Hầu La , con trai của thái tử Tất Đạt Đa. Nang Kanha Tỳ khưu ni Uparavannadhera.

Phra Vetsandorn là Thái tử Tất Đạt Đa , người đã tu tích Ba la mật trong 10 kiếp sống cuối. Trong kiếp sống thứ 11, Ngài đã thành tựu điều mà ngài mong muốn, đó là vào một buổi sáng sớm ngày rằm tháng Sáu năm Tuất, sau sáu năm vất vả tìm kiếm, Ngài đã tìm ra Mokkha Dhamma , đắc quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác trở thành Phật.

 

 

TIỂU SỬ TÁC GIẢ

 

Tác giả của cuốn sách, LuongTa Chanhphy Panyano Manivong, là một tăng sĩ Phật giáo người Lào, sinh ngày 21 tháng 3 năm 1921. Năm lên 10 tuổi, Ngài gia nhập Tăng đoàn và được thọ Cụ túc giới vào ngày sinh nhật lần thứ 21. Khi còn trẻ, Ngài rất thích du hành khắp đất nước Lào để hành nội thiền và để tế độ cho những chúng sinh muốn được nghe lời chỉ dạy của Ngài. Khi ấy, tại Lào, Hội Phật giáo đã ban tặng Ngài danh hiệu Đức đạo sư Chanhphy Panyano Manivong.

LuongTa Chanhphy Panyano Manivong chuyển đến cư trú tại Australia vào ngày 21 tháng 6 năm 1981, hai năm sau đó Ngài được phép nhập quốc tịch Australia. Bây giờ ngài đã 78 tuổi. Trong suốt quãng thời gian sống ở Australia , Ngài đã có rất nhiều đóng góp cho giới Phật giáo tại Australia và các nước khác trên thế giới. Ngài cũng là tác giả của rất nhiều cuốn sách về Phật pháp (bằng tiếng Lào và tiếng Anh), đã được truyền bá khắp thế giới và được coi như là Món quà Giáo pháp dành tặng tất cả chư vị Phật tử. Sau đây là một số cuốn sách về Giáo pháp và những đóng góp từ thiện của Ngài đối với Phật giáo:

Sách về Phật pháp:

1.  Silangloke Anuttarang

2.  Vimutti

3.  Con đường bạn đang tìm kiếm (Phần I & II)

4.  Trạng thái trống rỗng bạn đang tìm kiếm

5.  Thấu tỏ thiền định Vipassana – Trung gian Thiền định của 6 giai đoạn nhận thức

6.  Phật pháp cho bạn

7.  Lịch sử Đức Phật Cồ Đàm Tất Đạt Đa

Ngoài ra, Ngài LuongTa Chanhphy Panyano Manivong còn dâng tặng những hiện vật rất có giá trị cho các Đền chùa và Học viện Ph ật giáo như:

1. Một pho tượng Phật “Tư thế đang tế độ” tặng cho Đền Chaua Hoa Ghiem (đền của người Việt Nam ) ở đại lộ Princess 22, Springvale Vic.3171 ( Australia )

2. Hai pho tượng Phật “Tư thế đang tế độ” tặng cho Wat Buddhalavarn ở Lô 12 đường Minera, Wedderburn NSW 2560 ( Australia )

3. Một pho tượng Phật “Tư thế đang tế độ” tặng cho Wat Lao Buddhabhavanaram ở 561858 St Thành ph ố NoKennets , FL 33709 , USA (Bang Florida , Mỹ). Tại đây, ngài cũng hiến tặng 93 bộ sách Tripitaka

4. Tượng Phật “Phra Malai Posture” tặng cho Tịnh xá Phật giáo Horrowpothane , Sri Lanka

5. Tượng Phật với “Mãng xà bảy đầu” tặng cho Trung tâm Phật giáo Khmer ( Australia ), số 458-460 đường Springvale, Springvale South Vic. 3172 ( Australia )

6. Tượng Đức Phật với “Mãng xà bảy đầu” tặng Phra Ajarn Saly Sourintha, Sydney ( Australia )

7. Tượng Đức Phra Mokkhala và Đức Phra Salybouth tặng Wat Lao Buddhanimit Canberra, số 20 Jenke Circuit, Canberra ACT 2902 ( Australia )

8. Tượng Đức Phra Mokkhala và Đức Phra Salybouth, hai pho tượng Phật với “Mãng xà bảy đầu”, tượng Đức Phra Sinnarath, tặng Chùa Khmer, số 53 Đại lộ Balmorale, Springvale, VIC 3171 (Australia)

9. Một pho tượng Phật l ớn “Tư thế tế độ - Phra Arunxay”, rộng khoảng 1m, cao 1,5m; tượng đức Phật đang nằm, dài khoảng 50cm, cao 25cm; một chiêng đồng, số tiền 3.000 đô la Australia và một chiếc trống Lào “Kong Hang” dài khoảng 1m, tất cả được tặng cho Trung tâm Phật giáo Canberra Wat That Luang, số 1 Shand Place, Latham ACT 2615 (Australia)

10. Tượng Bồ Tát “Kwan Yim”, tượng Phật “dáng Lila” và tượng “Bảy bước đầu tiên ngự xuống đài sen của đức Phật” tặng cho Trung tâm luận đàm Phật giáo (Upway), số 33 Brooking St, Upway VIC. 3158 (Australia)

11. Một tượng Phật “Dáng Lila” tặng cho Chùa Việt Nam ở Melbourne , VIC. ( Australia )

12. Ngày 7 tháng 4 năm 1994, Ngài LuongTa Chanhphy Panyano Manivong đã tặng số tiền 3.000.000 kip (tiền Lào) và 25.000 bạt (tiền Thái Lan) cho Wat Ban Phra Khao ở thành phố Xaythany, Viên Chăn, Lào để xây dựng tam quan của chùa.

13. Đầu năm 1999, Ngài LuongTa Chanhphy Panyano Manivong đã đúc một tượng Phật bằng đồng cao khoảng 4,5m, ngự trên một bảo toạ 3,5m x 2,5m. Bức tượng nặng xấp xỉ 4,5 tấn, đã được chuyển đến Australia và sẽ được tặng cho công chúng Phật tử vào dịp thích hợp.

Trong những năm qua, LuongTa Chanhphy Panyano Manivong đã đi vòng quanh thế giới với mục đích truyền bá đạo pháp cho những vị Phật tử muốn được nghe lời chỉ dạy của Ngài. Ngài đã có nhiều dịp sang Mỹ, Châu Âu , Singapore , Thái Lan, Campuchia và Lào. Bất kể việc gì Ngài cũng làm với tất cả nhiệt huyết để duy trì và phát triển nền Phật giáo vì lợi ích của toàn thể chư vị Phật tử.

Lời cuối cùng tôi mu ốn nói là tôi luôn nhớ đến lời khuyên mà Ngài đã nói với các vị Phật tử rằng “Không tin vào ai, chỉ tin vào lẽ phải; không nghe ai nói, chỉ nghe theo lẽ phải”. Tôi có thể đứng ra xác nhận rằng những đóng góp từ thiện của Ngài LuongTa Chanhphy Panyano Manivong là hoàn toàn có thật.

Nhân dịp này, tôi muốn thay mặt toàn thể chư vị Phật tử, những người đã từng làm việc cùng với Ngài LuongTa Chanhphy Panyano Manivong, kêu gọi mọi quyền năng của Tam Bảo – Phật, Pháp, Tăng, quyền năng của các vị thần trên thế gian hãy phù hộ cho Ngài LuongTa được khoẻ mạnh, sống lâu và hạnh phúc, và ủng hộ chúng tôi trên bước đường dài phía trước. Sadhu Anumodhami.

Sakcsith Vongtongtip
9/9/1999

 

 

CỐNG HIẾN CÔNG ĐỨC

 

Nhân dịp này, Tôi, LuongTa Chanhphy Panyano Manivong, với tấm lòng chân thành và thuần khiết, xin được cống hiến những công đức mà tôi đã tích lũy được cho mọi chúng sinh như sau:

  1. Buddha Nubha Vena. Sabbha Buddha Nubha Vena (May All Be One)
  2. Dhamma Nubha Vena. Sabbha Dhamma Nubha Vena (May All Be One)
  3. Sangha Nubbha Vena. Sabbha Sangha Nubbha Vena (May All Be One)

Buddha Arattanang. Dhamma Arattanang. Sangha Arattanang
Buddha Parisitdhime - Dhamma Parisitdhime - Sangha Parisitdhime
Bhummanang Devanang Satdhang Suttava Arakkhara Dhevata Samutdha
Bhutung Khangkhaca Sitdhi Bhavantume

Bằng nh ững công đức tôi đã làm, tôi muốn kêu gọi quyền năng của Phật, Pháp, Tăng, trong quá khứ, hiện tại và tương lai hãy tụ hội thành một.

Buddha Nubhavena Sabbuddha Nubhavena
Dhamma Nubhavena Sabdhamma Nubhavena
Sangha Nubhavena Sabbha Sangha Nubhavena

Cầu cho mọi quyền năng hãy tụ hội thành một để phù hộ cho những công đức của tôi, gồm tu bố thí, thiền định và trì giới, bất kể trong quá khứ, hiện tại hay tương lai, có thể chiếu sáng để mọi chúng sinh Bhromma Loka và Manusa Loka được hưởng hạnh phúc. Cầu cho chúng sinh, bao gồm chúng sinh cõi Trời, Manusa và mọi loài vật trên thế gian này được giải thoát khỏi đau khổ, đau yếu, bệnh tật. Đối với những vị đã có đóng góp về thời gian, công sức, tiền bạc để cuốn sách này được ra đời, bất kể vật chất hay tinh thần, những vị là bậc cha mẹ, đạo sư, thầy giáo, những người đang vay nợ và toàn thể Phật tử, tôi muốn kêu gọi tất cả quyền năng của những công đức mà tôi đã tích lũy trong quá khứ hiện tại và tương lai hãy bảo vệ họ trước những hiểm nguy, tổn hại, đau yếu, bệnh tật, cầu chúc họ được hạnh phúc, mạnh khoẻ, sống lâu và trên hết là được giải thoát khỏi mọi đau khổ trên đời.

 

Sadhu Anumodhami.
LuongTa Chanhphy Panyano Manivong

 

 

LỜI CỦA DỊCH GIẢ

 

Trước tiên, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến LuongTa Chanhphy Panyano Manivong vì Ngài đã cho tôi cơ hội được dịch cuốn sách “ Cuộc đời Đức Phật Tổ Cồ Đàm Tất Đạt Đa” từ tiếng Anh sang tiếng Việt vì lợi ích của toàn thể tín đồ Phật giáo.

Tôi đến với tác phẩm "Cuộc đời đức Phật tổ Cồ Đàm Tất Đạt Đa" hết sức tình cờ và cho đó là một cơ may mà không phải ai cũng có.Tôi bắt tay vào dịch tác phẩm trong thời gian đang tạm nghỉ để chuyển đổi một công việc mới. Có lẽ nhờ sự "không may" đó mà bản dịch đã được đầu tư một thời gian tương đối dài.

Đối với tôi, dịch một tác phẩm mang tính tôn giáo như "Cuộc đời đức Phật Tổ Cồ Đàm Tất Đạt Đa" có ý nghĩa hết sức đặc biệt. Thông thường, khi dịch một tác phẩm, một tài liệu hay một bài viết, chúng ta đã ít nhiều có một vốn kiến thức liên quan đến lĩnh vực sẽ dịch, công việc còn lại là vận dụng những kiến thức đó để truyền tải nội dung từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Thế nhưng, đến tác phẩm này, phải thú thực với quý vị rằng, tất cả những gì tôi có là tính kiên trì và một chút thiên hướng trong tính cách thiên về lĩnh vực xã hội-tôn giáo. Vậy là, để dịch được tác phẩm, tôi đã phải trải qua một khoá "tự đào tạo" kiến thức về Phật giáo (qua sách vở, qua internet, qua trao đổi với những người am hiểu về Phật giáo,...). Kết quả là sau khi hoàn thành việc dịch tác phẩm, tôi mới bất ngờ nhận ra rằng, những gì tôi làm trong thời gian vừa qua không chỉ dừng lại ở việc dịch một tác phẩm mà là lĩnh hội một kiến thức mới. Tôi đã hiểu được Sinh - Lão - Bệnh - Tử chỉ là chuyện vô thường mà ai ai cũng sẽ phải trải qua. Điều quan trọng là khi đang sống trong cuộc đời này, phải biết yêu quý bản thân, yêu quý gia đình, yêu quý những thứ đang hiện hữu quanh ta, sống phải với lương tâm, phải không ngừng làm việc thiện, ấy chính là chúng ta đang tu tích nghiệp thiện cho kiếp sống hiện tại cũng như các kiếp sống sau này.

Lời cuối cùng, cho phép tôi được cảm ơn những người, dù trực tiếp hay gián tiếp đã mang đến cho tôi cơ hội được tiếp cận và dịch tác phẩm này; đặc biệt cám ơn Ngài LuongTa Chanhphy Panyano Manivong đã giành thời gian và đặt niềm tin nơi tôi để tôi hoàn thành tác phẩm này. Ngoài ra, tôi muốn gửi lời cảm ơn tới chị tôi là chị Bùi Thị Thủy vì những đóng góp rất quan trọng trong việc hiệu đính bản dịch cuốn sách mà các bạn đang đọc. Nếu không có sự giúp đỡ của chị, bản dịch chắc chắn đã gặp rất nhiều khó khăn.

Cuối cùng, tôi cầu chúc cho những người đã cùng tôi tham gia dịch tác phẩm này, cũng như mọi chúng sinh trên thế gian này được hạnh phúc, khoẻ mạnh, sống hoà thuận với nhau và trên hết là được giải thoát khỏi mọi khổ đau trong cuộc sống, không chỉ trong kiếp này mà cả những kiếp sau nữa. Sadhu Anumodhami.

Trần Quỳnh Chi
Hà nội - Việt Nam
10/10/2006

 

 

THÔNG ĐIỆP CỦA GIÁO PHÁP

Kể từ lúc này, các bạn sẽ biết và hiểu được nguồn gốc của Đạo Phật và người đã mang Đạo Phật đến với thế gian này.

Tôi muốn giải thích ngắn gọn ý nghĩa của từ “Bud”. “Bud” có nghĩa là “Đấng giác ngộ, Đấng thức tỉnh”. Đức Phật là Đấng giác ngộ khỏi Dukkha. Đức Phật là Đấng giác ngộ khỏi Sinh, Lão, Bệnh, Tử, phiền não, suy tàn; khỏi quá trình sáng tạo của tạo hoá, chính là nguyên nhân gây ra đau khổ cho loài người. Khi đức Phật đã giác ngộ, đó là lúc Ngài đắc được chữ “Dho”, nghĩa là biết và hiểu được “những hậu quả", những đau khổ, hiểu được quá trình sinh, lão, bệnh, tử – những yếu tố vẫn được biết đến là ‘Dhamma Anandha Dhamma', nghĩa là “Vô xác”. Dhamma là bất tử. Dhamma là lẽ phải. Dhamma không bao giờ chết. Dhamma không bao giờ đau yếu. Dhamma không bao giờ già đi. Dhamma không bao giờ bị suy tàn, diệt vong. Nếu Dhamma bị diệt vong thì đó chỉ là vì con người chủ tâm làm điều đó. Lẽ phải không thể bị diệt vong. Lẽ phải không thể chết. Lẽ phải sẽ tồn tại mãi mãi.

Tương tự như vậy, Tình Yêu cũng không thể chết, chỉ có Sinh, Tử và Bệnh bị tiêu tan bởi vì chúng đều có nguyên nhân sinh ra. Mặc dù con người ai rồi cũng sẽ chết đi nhưng đ ạo đức và lòng nhân t ừ , những công đức mà họ đã làm thì vẫn tồn tại mãi mãi. Hãy nhìn những tượng đài, những di tích kỉ niệm mà chúng ta vẫn thấy hàng ngày, hãy nhìn tượng Phật, đền chùa, giáo pháp của đức Phật, tượng đài của những vị anh hùng, tất cả vẫn còn đó với nguyên vẹn giá trị. Ngược lại, đối với những người đã tạo nghiệp ác, ngay cả khi đã ch ết đi thì những gì họ đã làm vẫn sẽ tồn tại mãi mãi, phải chịu sự chê trách của người đời.

Yêu thương một người bằng “Tình yêu bất diệt” là làm cho tình yêu đó mãi còn nguyên vẹn mặc dù người ấy qua đời từ rất lâu. Tình yêu đó sẽ mãi tồn tại và được tôn vinh . Trong tình yêu không tồn tại Dukkha, không có đau buồn, và không thể bị diệt vong. Ví dụ, Tượng đài tình yêu Tajmahal ở Ấn Độ; giá trị tinh thần của ngày Valentine, ngày lễ Cha lễ Mẹ; còn trong đạo Phật thì đó là ngày kỷ niệm Thái tử Tất Đạt Đa ra đời, đắc đạo và nhập Đại Niết Bàn.

Tình yêu sẽ tồn tại và mãi được tôn vinh. Một gia đình tràn ngập tình yêu sẽ luôn phát đạt và hạnh phúc. Một đất nước tràn ngập tình yêu sẽ luôn thịnh vượng và phát triển. Đối với mỗi cá nhân chúng ta, chúng ta càng chăm sóc, yêu thương bản thân thì chúng ta càng tránh được những khổ đau phiền não. Đây chính là nguồn gốc của câu “Sống phải biết thờ phụng và tạ ơn”. Chúng ta nên biết ơn cha mẹ, thầy giáo, những mạnh thường quân, những người đã cho ta cuộc sống, cho ta kiến thức để diệt trừ vô minh, đã hỗ trợ giúp đỡ ta, họ xứng đáng được tôn trọng. Về phương diện Phật giáo, cha mẹ đã sinh ra ta, thầy giáo đã dạy dỗ ta. Đức Phật được sinh ra trong một gia đình phàm trần, Ngài đã chứng được Chánh Tri Kiến từ những điều xung quanh ta. Nhưng đức Phật là người đầu tiên thức tỉnh và nhận ra được chân lý tối hậu, Ngài muốn tất cả chúng ta đều có thể theo gương ngài.

Lòng nhân từ và đạo đức là bất diệt và sẽ mãi mãi được tôn vinh. Bằng chứng là chúng ta vẫn tổ chức những ngày lễ kỷ niệm để tưởng nhớ sự hi sinh cao cả của các vị anh hùng trong quá khứ, dâng hoa thơm lên những tượng đài hay di tích đó. Còn về tôn giáo thì đạo giáo nào cũng có những ngày lễ kỷ niệm riêng. Chẳng hạn, trong Phật giáo, những ngày lễ lớn đã được tổ chức đều đặn trong suốt 2541 năm qua để nhớ về những đóng góp của đức Phật và những ngày lễ này sẽ vẫn được duy trì cho đến năm 5000.

Trong Cơ đốc giáo, ngày lễ Noel được tổ chức trên khắp thế giới để tưởng nhớ ngày chúa Jesus ra đời. Điều này giải thích tại sao tôi lại nói rằng lòng nhân từ là bất diệt và sẽ mãi được tôn vinh, mặc dù tội ác cũng là bất diệt nhưng mãi mãi để tiếng xấu ở đời. Ví dụ, sự tàn phá của Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai: ở Nhật, hai thành phố bị bom nguyên tử phá hủy; ở Đức, trong ngôi nhà Duck, hàng trăm ngàn người bị ngạt khí độc cho đến chết; ở Cam-pu-chia, trên những vùng đất chết, hàng trăm ngàn người bị tàn sát, tra tấn dã man cho đến chết.

Tình yêu là bất diệt. Ở Ấn Độ, tượng đài Tình yêu lớn nhất thế giới, tượng Tajmahal, là do một vị vua Ấn Độ xây nên để thể hiện tình yêu mà Ngài dành cho hoàng hậu của mình. Ở Ý, thánh Valentine đã hi sinh cuộc đời của mình vì tình yêu đối với tôn giáo. Thời ấy, đạo Cơ đốc bị cấm ở thành Rome nên Ngài đã bị kết án tử hình và sau đó bị hành quyết. Người dân trên khắp thế giới đã tưởng nhớ đến sự hi sinh của ngài và đã lấy luôn ngày mà ngài bị hành quyết là ngày Valentine.

Bởi vậy, một vị Bồ Tát dù được sinh ra thuộc tín ngưỡng tôn giáo nào thì cũng là để dạy mọi người phải biết thương yêu nhau, cùng chung sống trong hoà bình, biết giúp đỡ lẫn nhau, hiểu được giá trị cuộc sống của mình cũng như của người khác. Giữa con người và loài vật thì tình cảm, sự tương trợ đó cũng không thay đổi bởi vì tất cả chúng ta đều chịu chung một số mệnh, tức là đều phải trải qua đầy đủ những cái vô thường trên đời như Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Chỉ có một điều khác biệt duy nhất đó là, một bên là con người còn một bên là loài vật. Cả hai đều có chung ước nguyện: không muốn chết, chỉ muốn được sống trong hoà bình, không phải chịu bất kỳ khổ đau phiền não nào trên đời. Cả hai đều sợ tội ác – nguyên nhân gây ra mọi đau đớn và tan nát.

Đức Phật đã hi sinh tất cả mọi thứ mà Ngài có. Hãy để ý ngày Ngài sinh ra, ngày Ngài quyết định xuất gia tu hành, ngày Ngài đắc quả Giác ngộ và nhập Niết bàn. Chúng ta đều biết rõ những sự kiện đã diễn ra trong cuộc đời Ngài: Chào đời trong khu vườn Lâm Tì Ni, khu biên giới giữa thành Ka Tỳ La Vệ và thành Devathahs; Rời bỏ cung điện và xuống tóc trong một khu rừng bên bờ sông Ni Liên Thiền; Đắc đạo ở cội cây Bồ Đề; Nhập diệt giữa hai gốc cây Vô Ưu trong một khu rừng ở phía ngoài thành Câu Thi Na (Kushinara). Không có một sự kiện quan trọng nào diễn ra trong cung điện, trong thành phố hay những chốn thần thánh. Bởi vậy, chúng ta có thể thấy rằng, không nhất thiết phải ở trong thành phố, cung điện hay đền chùa miếu mạo thì mới tu tích được công đức. Hãy làm điều thiện xuất phát từ chính trái tim, làm bằng trí tuệ và lí trí của chúng ta.

Bây giờ, tôi muốn nhấn mạnh đến hai chữ “BUDDHO”. “BUD” có nghĩa là thức tỉnh còn “DHO” có nghĩa là hiểu và biết. Phật là người đầu tiên thức tỉnh và mong muốn mọi người hãy theo bước chân Ngài. Điều cốt lõi của Đạo Phật trong Phạn ngữ chính là “Buddho”, bắt nguồn từ Anapanasati, tức là “Thức tỉnh và Hiểu biết bằng trí tuệ của cảm giác”. Con người sống nhờ hô hấp và hiểu biết nhờ vào trí tuệ. Tôi đã kết hợp hai từ này với nhau, và đó là kết tinh của 40 Kammathana trong Đạo Phật. Đây là những nguyên tắc của Hành Thiền trong đạo Phật mà chúng ta vẫn thường gọi là Vinaya (luật tạng hay giới luật). Tất cả những giới luật này đều do đức Phật đặt ra và tất cả chư vị Phật tử đều phải tuân thủ để hành theo.

Giờ đây, tôi muốn giải thích ngắn gọn về hậu quả của sự phá hủy và tan nát. Sự tan nát là nguồn gốc của Khổ (Dukkha), Khổ là nguồn gốc của sự ích kỉ, ích kỷ là nguồn gốc của tham lam, tham lam là nguồn gốc của Nghiệp. Có hai loại Nghiệp: nghiệp thiện và nghiệp ác, được phân chia thành Vatdhacak “Vòng đời”. Vatdhacak là nguồn gốc của Loka. Loka là nguồn gốc của Hành (Sankhara). Hành lại bắt nguồn từ sự khởi tạo riêng của nó. Sự khởi tạo bắt nguồn từ những phản ứng của cảm xúc và những điều khác nữa trên thế gian này. Nói tóm lại, nếu chúng ta không có Sati (tâm thức), chúng ta sẽ chỉ là nô lệ của lòng tham lam, mà lòng tham lam lại bao gồm ngàn vạn cái phiền não. Bởi vậy, tôi muốn dành tặng quý vị hai từ ‘BUDDHO' để quý vị không trở thành nô lệ của sự ích kỷ. Hãy tinh tấn tập luyện – thức tỉnh và hiểu được BUDDHO.

Cuối cùng, tôi muốn gửi đến chư vị Phật tử cuốn sách này, các vị hãy coi đây như là một món quà Giáo pháp. Xin cầu chúc cho tất cả sẽ được giác ngộ, hiểu được Khổ (Dukkha), hiểu được các hậu quả, hiểu được Sắc (Rupa) và Hành (Sankhara), biết được cách sống, cách đối nhân xử thế và cầu chúc quý vị vạn sự như ý. Sadhu Anumodhami.

Phật chúc phúc cho tất cả chúng sinh

LuongTa Chanhphy Panyano Manivong
Buddhist Centre ‘Wat That Luang' Canberra Inc
1 Shand Place , Latham CANBERRA 2615 ( Australia )

 

 

Ấn Độ

Ấn Độ là một đất nước nằm ở phía Nam lục địa châu Á. Dãy núi Himalaya hùng vĩ là đỉnh cao nhất thế giới cũng nằm trên địa phận Ấn Độ.

 

 

 

Chư thiên thỉnh cầu một vị Bồ Tát đầu thai
xuống trần gian để trở thành đức Phật

Trước khi Phật giáo ra đời, đức Bồ Tát Vetsandhol sống trên cõi trời Đâu suất (Dusitta). Chư thiên ở các cõi Sắc giới họp bàn để chọn ra một vị Bồ Tát thích hợp nhất rồi thỉnh cầu vị ấy xuống trần gian để đắc đạo trở thành đức Phật. Họ nhất trí rằng đức Bồ Tát trên cõi trời Đâu suất là người thích hợp nhất vì vị này đã tích luỹ Ba la mật trong các kiếp sống trước chỉ với mục đích là chứng quả giác ngộ và trở thành đức Phật. Một khi Ngài thành Phật thì mọi chúng sinh trên thế gian sẽ được Ngài tế độ và chỉ cho con đường giải thoát khỏi mọi nỗi khổ (dukkha).

 

 

Đức Bồ Tát đầu thai vào dòng họ Thích Ca ở thành Ka Tỳ La Vệ

Đức vua Tịnh Phạn (Sri Soudhothana) và hoàng hậu Siri Maha Mada (Siri Maha Maya) mới thành hôn. Ngày mà đức Bồ Tát Vetsandhol đầu thai xuống hạ giới là ngày rằm tháng Tám năm Tuất. Vào ngày đó, hoàng hậu Siri Maha Mada đã nằm chiêm bao thấy bà đang ở trong một khu rừng, bỗng đâu từ trên núi xuất hiện một con bạch tượng mỗi lúc lại tiến đến gần bà. Vào đúng ngày mà đức Bồ Tát đầu thai vào hoàng hậu đã xảy ra một sự việc rất kì lạ, giống hệt như ngày mà đức Bồ Tát được sinh ra. Cả trái đất rung chuyển, báo hiệu rằng người mù sắp được nhìn còn kẻ điếc sắp được nghe. Đó là điềm báo về sự ra đời của một vị Phật mà những giáo pháp của Ngài có thể tế độ và truyền giảng cho tất cả mọi chúng sinh trên toàn cõi thế gian. Người mù hay kẻ điếc là để chỉ những người trong lòng chất chứa nhiều phiền não, nhưng một khi đã được tiếp thu Phật pháp thì sẽ trở nên thông tuệ và có thể tìm ra con đường giải thoát khỏi mọi sự khổ đau.

 

 

Thành Ka Tỳ La Vệ

Miền đất Ấn Độ thời đó có rất nhiều thành phố, nhưng chỉ có một thành phố mang tên Ka Tỳ La Vệ là nơi thái tử Tất Đạt Đa được sinh ra. Thành Ka Tỳ La Vệ nằm trong khu rừng Teak gần với nhà Gươm được đặt theo tên của một nhà hiền triết, tên là "Okbil". Đây là lý do tại sao thành phố lại mang tên Ka Tỳ La Vệ. Thành Ka Tỳ La Vệ đã được đặt dưới sự cai trị của nhiều đời vua, trong đó có dòng họ Thích ca (Sakayavong). Thời đó, trị vì thành phố là đức vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Siri Maha Mada, chính là cha và mẹ của thái tử Tất Đạt Đa (Siddhartha).

 

 

Giấc chiêm bao

Trước khi thái tử Tất Đạt Đa ra đời, vào một buổi sáng sớm thứ Năm, ngày rằm tháng Tám năm Dậu, hoàng hậu Siri Maha Mada đã chiêm bao thấy một con bạch tượng dâng cho bà một bông sen hái từ ngọn núi vàng bạc. Ngay sau đó, hoàng hậu đã thụ thai. Trong suốt mười tháng mang thai, hoàng hậu luôn nghĩ rằng bà cần trở về thành Thiên Tý ( Devathaha City ) để sinh con.

 

 

Hoàng hậu Siri Maha Mada xin phép đức vua

Trong một thời gian dài, vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Siri Maha Mada đã sống rất hạnh phúc bên nhau. Vào lúc sắp sinh thái tử, hoàng hậu xin phép đức vua được trở về quê cha để sinh con. Đức vua chấp thuận và đã đặc phái người hộ tống hoàng hậu về quê nhà.

 

 

Biên giới Lumbini

Tại vùng biên giới giữa hai thành phố có khu vườn Lâm Tì Ni (Lumbini). Tại nơi đây, người dân sống ở hai thành phố thường lui tới nghỉ hè dưới bóng những cây Vô Ưu (Sara) khổng lồ. Nơi đây chim hót líu lo trong cảnh rừng thiên nhiên, thật đúng là một chốn nghỉ ngơi lý tưởng. Đây chính là nơi sinh ra đời một đứa trẻ mà sau này sẽ trở thành đức Phật.

 

 

 

Thái tử ra đời

Hôm đó là thứ Sáu ngày rằm tháng Sáu theo âm lịch (Tháng Năm), đoàn tùy tùng của hoàng hậu đã đến vườn Lâm Tỳ Ni. Ngay trước giờ Ngọ, hoàng hậu có ý muốn nghỉ ngơi dưới gốc cây, bà liền cho đoàn tùy tùng dừng lại. Khi đang thưởng thức tiếng chim ca hót cùng với cảnh đẹp nơi này, hoàng hậu đã hạ sinh thái tử ngay dưới gốc cây Vô Ưu. Vậy là thái tử sinh vào ngày rằm tháng Sáu âm lịch, năm Tuất, 80 năm trước kỷ nguyên Phật giáo. Ngày sinh của thái tử vô cùng đặc biệt bởi lẽ nó trùng với ngày thái tử đắc đạo trở thành đức Phật và ngày nhập Niết bàn. Đây cũng là ngày sinh của: ( 1) Công chúa Gia Du Đà La , (2) đức Anonh, (3) Ngài Sandha , (4) Ngài Karudhayi (quan đại thần) , (5) Con tuấn mã Kiền Trắc (Kandhaka), (6) Cây Bồ đề và (7) những vật giá trị khác .

 

 

 

Thái tử trở về cung điện

Sau khi hoàng hậu Siri Maha Mada sinh thái tử, đoàn tùy tùng phải tất bật chăm sóc hoàng hậu và thái tử mới sinh, rồi sau đó hộ tống trở về thành Ka Tỳ La Vệ. Nghe tin hoàng hậu hạ sinh, đức vua trong lòng nôn nóng mong sớm được trông thấy thái tử. Ngài đã hạ lệnh cho đám hầu cận phải hết sức trông nom săn sóc hoàng hậu và thái tử.

 

 

 

Cuộc thăm viếng của hiền nhân Karadhevin

Ở phía ngoài thành có rất nhiều bậc hiền nhân, trong số đó Karadhevin được coi là giỏi nhất, được đức vua và dân chúng hết sức kính trọng. Nghe tin đức vua đã có thái tử, lại được Chư Thiên báo mộng, ông lập tức tới ngay hoàng cung.

 

 

Hiền nhân Karadhevin đảnh lễ trước thái tử

Khi hiền nhân Karadhevin đã vào tới hoàng cung, đức vua mong được ông chúc phúc cho thái tử nên đã truyền lệnh đưa thái tử đến trước mặt hiền nhân. Sau khi đã ngắm kỹ thái tử mới ra đời, Karadhevin hết sức hài lòng. Thái tử có đầy đủ mọi phẩm chất mà bất cứ ai cũng phải mong ước. Nhưng sau đó, hai dòng nước mắt từ từ lăn trên đôi gò má ông, rồi cuối cùng ông bật khóc đầy vẻ thất vọng.

 

 

Hiền nhân Karadhevin
và đức vua cùng đảnh lễ trước thái tử

Vua Tịnh Phạn lo lắng hỏi nguyên do khiến ông khóc. Hiền nhân thưa với đức vua rằng thái tử sinh ra với những phẩm chất cao đẹp nhất, tương lai sẽ trở thành đấng Đại đạo sư của loài người trên khắp thế gian, ông khóc vì tuổi đã cao không thể chờ được đến ngày đó. Sau đó, ông cúi đầu đảnh lễ trước thái tử. đức vua cũng làm theo.

 

 

 

Buổi hội họp của các nhà thông
thái và bậc hiền nhân trong cung

Đức vua cho triệu mời tất cả các nhà thông thái và bậc hiền nhân vào cung để làm lễ đặt tên cho thái tử. Cuối cùng tất cả đều nhất trí đặt tên cho thái tử là Tất Đạt Đa với ý nghĩa là người sẽ đạt được bất cứ điều gì mong muốn.

 

 

 

Lời tiên đoán của các vị tiên tri về tương lai của thái tử

Theo tiên đoán của các vị tiên tri, nếu trị vì vương quốc, thái tử sẽ trở thành bậc thánh vương muôn đời. Nhưng nếu thái tử quyết định từ rã cung điện sống cuộc đời ẩn dật, người sẽ trở thành bậc đạo sư của loài người. Trong số các vị tiên tri có mặt tại hoàng cung lúc đó, có một vị trẻ tuổi tên là Kiều Trần Như (Kodanya). Vị tiên tri này đã quả quyết rằng khi thái tử Tất Đạt Đa trưởng thành, chàng nhất định sẽ từ giã hoàng cung để trở thành một tăng sĩ. Chàng sẽ chứng đạo quả giác ngộ và trở thành Phật.

 

 

 

Mong ước của đức vua Tịnh Phạn

Vua Tịnh Phạn vô cùng hài lòng với lời tiên đoán rằng thái tử sẽ trở thành bậc thánh vương, nhưng ngược lại, rất khó chịu với lời tiên đoán rằng thái tử sẽ rời bỏ hoàng cung trở thành tăng sĩ, chứng đạo quả giác ngộ và đi truyền giáo khắp thế gian. Đức vua mong ước khi về già, ngài có thể truyền ngôi báu lại cho thái tử.

 

 

 

Hoàng hậu Siri Maha Mada
qua đời vào ngày thứ bảy

Sau buổi lễ đặt tên cho thái tử, sức khoẻ của hoàng hậu Siri Maha Mada vô cùng giảm sút. Cuối cùng, vào ngày thứ bảy kể từ khi thái tử ra đời, hoàng hậu đã tạ thế. Dân chúng cả nước hết sức đau buồn, đặc biệt là vua Tịnh Phạn, người đã hết mực thương yêu hoàng hậu vì bà có trái tim yêu thương, tấm lòng nhân hậu hơn hẳn những phi tần mỹ nữ khác.

 

 

 

Di mẫu Nang Maha Pasabody

Sau khi hoàng hậu tạ thế, Vua Tịnh Phạn đã trao thái tử cho một cung phi khác tên là Maha Pasabodhikodhami chăm sóc. Cung phi Maha Pasabodhikodhami đã nuôi nấng thái tử Tất Đạt Đa như con đẻ của mình. Chính vì vậy thái tử chưa bao giờ phải suy tư về người mẹ ruột của mình.

 

 

 

Việc dạy dỗ thái tử Tất Đạt Đa

Rất nhiều danh sư tài giỏi được mời đến hoàng cung để trông nom và dạy dỗ thái tử Tất Đạt Đa. Thái tử lớn lên trở thành một cậu bé hết sức thông minh và nhân từ. Bất cứ ai đã từng gặp chàng đều hết sức yêu mến chàng. Lên tám tuổi, chàng được gửi đến một trong số những trường học nổi tiếng nhất tên là Visavamit.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa học bắn cung

Dưới sự dìu dắt dạy bảo của rất nhiều thầy giáo về mọi lĩnh vực, thái tử vẫn có thể tiếp thu tốt các môn học mà không gặp bất cứ khó khăn gì. Trên thực tế chàng đã tỏ ra vượt trội trong các môn học. Điều này khiến đức vua và các thầy giáo rất đỗi ngạc nhiên. Dù là môn học nào, nghệ thuật diễn thuyết, quân sự, kinh tế hay bắn cung, chàng cũng đều tỏ ra xuất sắc.

 

 

 

Việc học tập từ các thầy giáo và các bậc đạo sư

Mặc dù với thân phận là một vị thái tử, lại rất mực thông minh nhưng lúc nào thái tử cũng tỏ lòng tôn kính đối với các thầy giáo và các bậc tiền bối vì chàng hiểu rằng nếu không có họ, chàng sẽ chẳng bao giờ biết được những bài học giá trị về cuộc sống. Chính vì vậy, thái tử luôn tỏ ra hoà nhã, ngoan ngoãn và lễ phép.

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa với các môn võ nghệ

Thái tử Tất Đạt Đa không chỉ cư xử rất quân tử, lễ độ, chàng còn tốt bụng, hào phóng và nhân từ. Chàng cũng tỏ ra rất dũng cảm trong các môn thể thao giành cho phái nam. Xuất thân từ hoàng gia, chàng được giáo dục tốt về các môn đua ngựa, nghệ thuật cưỡi ngựa, đánh xe từ khi còn nhỏ.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa và tinh thần thượng võ,
lòng nhân từ với đối thủ

Trong môn cưỡi ngựa đánh xe, thái tử có thể chiến thắng tay đánh xe cừ nhất kinh thành. Trong các cuộc thi cưỡi ngựa, lúc nào chàng cũng rất nhân ái đối với con tuấn mã đã giúp chàng giành thắng lợi. Chẳng hạn, chàng không bao giờ bắt chú ngựa phải chạy hết tốc lực để giành chiến thắng mà chỉ để nó chạy vừa phải ngang bằng với các đối thủ.

 

 

 

Thái tử và lòng nhân từ đối với loài vật

Thái tử Tất Đạt Đa không chỉ nhân từ với con tuấn mã riêng của mình mà chàng còn tốt bụng với mọi loài động vật khác. Mặc dù có thân phận cao quý và chưa gặp phải bất kỳ khó khăn trở ngại nào trong cuộc sống, nhưng chàng có thể hiểu được cảm xúc và suy nghĩ của loài vật. Tất cả đều căm ghét khổ đau và mong muốn có hạnh phúc. Nói cách khác, “loài vật cũng sống một cuộc sống giống như con người.”

 

 

 

Thái tử lên tám tuổi đã
biết nhận thức giá trị cuộc sống

Mặc dù thái tử chỉ mới 8 tuổi nhưng mọi việc chàng làm đều chứng tỏ một điều là chàng luôn tránh không làm những việc có thể giết hại hoặc gây tổn thương dù trực tiếp hay gián tiếp đến những loài vật khác, cho dù chúng lớn hay nhỏ. Đó là vì tự chàng hiểu rằng mọi loài sinh vật, chúng đều có cuộc sống riêng và đều phải tuân theo quy luật cuộc sống - “sinh, lão, bệnh, tử”. Một ngày nọ, thái tử nhìn thấy con trai của một vị quan dùng gậy đánh một con rắn, chàng liền ngăn lại vì cho rằng hành động ấy thật độc ác. “Cho dù đó là con người hay loài vật, chúng đều biết quý trọng cuộc sống”.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa và thái tử Thevathat

Một hôm, thái tử Tất Đạt Đa đến chơi đùa trong vườn với những đứa trẻ cùng trang lứa trong dòng tộc và con quan. Trong số những đứa trẻ này có thái tử Thevathat, em họ của thái tử Tất Đạt Đa. Tính cách hai thái tử rất khác nhau do kiếp sống trước đây của hai người khác nhau.

 

 

 

Lòng nhân hậu của thái tử Tất Đạt Đa
đối với những sinh linh chịu khổ đau

Thái tử Tất Đạt Đa rất giàu tình cảm và chàng chưa bao giờ khinh thường những kẻ nghèo khó hay bất hạnh. Chàng luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác. Trong khi đó, thái tử Thevathat lại là kẻ chuyên đi bắt nạt, gây rối. Chàng ta có tính hay đố kị, độc ác và thích giết hại động vật. Vào ngày dạo chơi trong khu vườn, cả hai đều có mặt. Thái tử Thevathat mang theo cung tên. Trong khi đang chơi đùa trong vườn, có một con thiên nga bay ngang qua, Thevathat liền giương cung bắn và đã trúng đích, khiến chú chim bị thương rơi ngay xuống đất. Lẽ đời người tốt luôn mong muốn mọi người được hạnh phúc trong khi kẻ ác lại luôn gây đau đớn, thương tổn cho người khác.

 

 

 

Tình thương của thái tử Tất Đạt Đa
đối với con thiên nga

Thái tử Tất Đạt Đa lao ngay đến chỗ con thiên nga bị thương trước khi thái tử Thevathat kịp chạy đến. Chàng thận trọng bế con chim lên, từ từ rút mũi tên rồi sau đó hái lá cây dịt vào chỗ bị thương để cầm máu. Chàng âu yếm vuốt ve con chim. Thái tử Thevathat không thể chịu được hành động cũng như thái độ của thái tử Tất Đạt Đa đối với con thiên nga, liền đòi lại con chim vì chính chàng đã bắn trúng nó. Thái tử Tất Đạt Đa không chịu nên sự việc trở nên bế tắc.

 

 

 

Từ chối trao chú chim cho thái tử Thevathat

Thái tử Tất Đạt Đa nhất quyết không trao trả chú chim cho Thevathat trong bất kỳ tình huống nào. Chàng lí luận rằng nếu một người bắn chết con chim thì con chim rõ ràng sẽ thuộc về người đó. Nhưng trong trường hợp này, con chim không chết, do vậy nó sẽ thuộc về người đã chữa lành vết thương cho nó. Và bởi vậy chàng quả quyết rằng con thiên nga sẽ thuộc về chàng. Trong khi đó, thái tử Thevathat cũng quả quyết là con thiên nga phải thuộc về người bắn được nó. Thái tử Tất Đạt Đa gợi ý đưa sự việc ra pháp đình, nhờ các bậc hiền nhân và nhà thông thái phân xử, và Thevathat đồng ý.

 

 

 

Phán quyết của Pháp đình

Sau khi xem xét sự việc của thái tử Tất Đạt Đa và thái tử Thevathat, mỗi hiền nhân và nhà thông thái đều có một ý kiến riêng. Một số vị ủng hộ thái tử Tất Đạt Đa, số khác lại ủng hộ thái tử Thevathat. Sự việc thật không dễ giải quyết và cần phải được cân nhắc thêm.

 

 

 

Lòng nhân từ đã cứu sống chú chim

Cuối cùng, pháp đình đã có được phán xét cuối cùng dựa trên ý kiến của một nhà thông thái trẻ tuổi. Vị này đã nói trong cuộc xét xử rằng: “Con thiên nga thuộc về người đã hết lòng cứu mạng sống của nó chứ không thuộc về kẻ đã cố tâm huỷ diệt sự sống của nó”. Vậy là con thiên nga đã thuộc về thái tử Tất Đạt Đa, người đã kiên nhẫn và thận trọng chữa lành vết thương cho đến khi nó bình phục hoàn toàn. Khi thái tử thả nó về với cuộc sống hoang dã, con thiên nga lại được tự do. Kể từ ngày đó, trong lòng thái tử Thevathat luôn nung nấu ý định trả thù thái tử Tất Đạt Đa.

 

 

 

Lễ trồng lúa truyền thống

Thời kỳ đó ở Ấn Độ, các sản phẩm phục vụ nhu cầu con người hầu hết đều có nguồn gốc từ đồng ruộng. Bởi vậy, người ta coi nhiệm vụ quan trọng nhất của một người đối với bản thân anh ta nói riêng và đối với đất nước nói chung chính là làm việc trên đồng ruộng cho đến ngày thu hoạch lúa gạo, sản phẩm thiết yếu nhất đối với con người. Vì lí do này mà lễ hội trồng lúa truyền thống ra đời và phát triển. Trong lễ hội này, nhà vua cũng phải tham gia và đích thân xuống ruộng cấy lúa làm mẫu cho thần dân của mình. Đức vua không được tỏ ra khó chịu hay xấu hổ mà phải coi đó chính là vì niềm hạnh phúc của thần dân, vì sự thịnh vượng của đất nước.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa tham dự Lễ trồng lúa truyền thống

Tại thành Ka Tỳ La Vệ, tiết trời lúc đó đương mùa hè, báo hiệu bắt đầu một mùa vụ trồng lúa. Đức vua cùng với các cận thần và con cháu trong hoàng cung đang tham dự lễ hội trồng lúa của Hoàng gia. Có rất nhiều người đến xem lễ hội. Cũng có rất nhiều trò chơi giải trí. Hôm đó, nhà vua cho phép thái tử Tất Đạt Đa đi theo.

 

 

 

Vua Tịnh Phạn chủ trì buổi lễ

Vua Tịnh Phạn chủ trì lễ hội và bắt đầu xuống cày ruộng, theo sau có các quan đại thần và dân thường cùng bắt tay vào cày xới cho đến khi thửa ruộng sẵn sàng để gieo hạt. Chiếc cày của nhà vua được dát vàng còn của các vị quan thì được dát bạc.

 

 

 

Suy ngẫm của thái tử Tất Đạt Đa về cuộc sống

Đến trưa, những người tham dự lễ hội đều vui vẻ quây quần ăn uống. Tất cả đều quên bẵng thái tử Tất Đạt Đa lúc đó đang lặng lẽ tiến về phía một cây cổ thụ râm mát. Chàng ngồi xuống, trầm tư suy nghĩ về cuộc sống của đức vua cha, của các quan đại thần và của dân chúng, những người lúc này đang tụ tập ăn trưa trong niềm hạnh phúc hân hoan. Đó thật sự là những khoảnh khắc vui sướng đối với mọi người.

 

 

 

Suy tư của thái tử Tất Đạt Đa về cuộc sống của loài vật

Nhìn lũ bò, thái tử Tất Đạt Đa nghĩ rằng dù gì thì nó cũng không thể thấy hạnh phúc được. Chúng phải nai lưng kéo cày dọc theo những lớp đất nhày để rồi sau đó thở hồng hộc qua miệng và lỗ mũi. Cuộc sống của chúng không hề vui vẻ ngay cả khi con người đang rất sung sướng tụ tập ăn uống trong ngày hội. Chúng không những phải làm việc cực nhọc mà còn bị quất roi và chửi mắng mỗi khi không làm hài lòng chủ nhân. Thái tử Tất Đạt Đa rất buồn về điều này.

 

 

 

Suy tư của thái tử Tất Đạt Đa về diễn tiến của cuộc sống

Ngoài ra, thái tử cũng để ý đến cuộc sống của các loài động vật khác, kể cả loài côn trùng sống ở gần đó. Thái tử nhìn thấy một con thằn lằn nhô đầu lên khỏi ổ gần chỗ chàng ngồi và thè cái lưỡi chết người tóm lấy một con kiến nhỏ đang tha mồi. Bỗng nhiên, một con rắn từ đâu trườn tới cắn chết con thằn lằn bằng nọc độc chết người của nó rồi nuốt chửng. Trong khi thái tử vẫn chưa hết ngạc nhiên về những gì xảy ra trước mắt thì bỗng một con đại bàng từ trên cao sà xuống và quắp lấy con rắn bằng đôi móng sắc nhọn rồi bay đi. Chàng thấy tiếc cho cuộc sống của các loài vật và nhận thấy cuộc sống thật mong manh .

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa
nhận thấy cuộc sống luôn đầy rẫy những khổ đau

Từ việc phân tích những suy nghĩ của mình, thái tử Tất Đạt Đa tự nhủ “Cuộc đời này, mọi việc có vẻ tốt đẹp thật đấy, nhưng phải chăng vẫn có những điều xấu xa ẩn sâu dưới lớp bề ngoài kia?”. Cuối cùng, thái tử đi đến kết luận rằng mọi sinh vật trên trái đất này lúc nào cũng phải đối mặt với khổ đau. Ngay cả thái tử, lẽ ra đang ở cái tuổi được hồn nhiên vui chơi thì tâm trí cậu lại bị chìm đắm trong những suy nghĩ sâu xa để rồi cảm thấy vô vọng vì cậu không tìm thấy câu trả lời.

 

 

 

Vua Tịnh Phạn trở về hoàng cung sau lễ hội

Khi lễ hội kết thúc, những thị vệ có phận sự trông nom thái tử Tất Đạt Đa phải đi tìm chàng, cuối cùng họ tìm thấy chàng đang ngồi như một pho tượng đá dưới bóng cây lớn (*). Họ phải lay chàng dậy rồi mời chàng hồi cung cùng với đức vua và các vị quan đại thần. Trên đường trở về cung, thái tử Tất Đạt Đa cảm thấy nuối tiếc cho cuộc sống của các loài vật.

(*) Thông thường, bóng cây luôn ở hướng đối diện với tia nắng mặt trời, nhưng nơi mà thái tử Tất Đạt Đa đang ngồi thì bóng cây đó không hề dịch chuyển, che mát cho thái tử trong suốt thời gian chàng ngồi. Đức vua vô cùng ngạc nhiên về điều này, và lần thứ hai ngài quỳ rạp dưới chân đứa con trai mình đảnh lễ .

 

 

 

Vua Tịnh Phạn bắt đầu lo lắng

Nhà vua rất lo ngại về cách cư xử cũng như suy nghĩ của thái tử về giới tu hành. Ngài sợ rằng thái tử sẽ rời xa mình, rời xa vương quốc và ngai vàng, những thứ mà ngài chủ định sẽ truyền lại cho chàng. Nhà vua quyết tâm làm mọi việc hòng thay đổi cách suy nghĩ của chàng, để mọi thú vui giải trí trong cung điện có thể trở nên quen thuộc với chàng. Nhà vua ra lệnh xây thêm ba cung điện nữa dành cho thái tử, vậy là giờ đây thái tử có tất cả bốn cung điện. Nhưng điều này cũng không thể ngăn thái tử thôi nghĩ đến việc hi sinh thân mình để cứu giúp loài người thoát khỏi khổ đau và tìm thấy niềm hạnh phúc thật sự.

 

 

 

 

Những cung điện xây riêng cho thái tử - mỗi mùa một cung điện

Cung điện thứ nhất gọi là cung điện mùa đông, được xây bằng những loại gỗ quý, nhiệt độ trong cung lúc nào cũng ấm áp. Mặt sàn được lát bằng gỗ đàn hương. Cung điện này giành để thái tử đến ngự vào mùa đông. Cung điện thứ hai được xây bằng đá cẩm thạch được mài láng bóng và mát mẻ quanh năm. Cung điện này được xây để Thái tử đến ngự vào mùa hè. Cung điện thứ ba được xây bằng một loại gạch tốt, mái được làm bằng loại vật liệu có thể chống lại những cơn bão lớn. Cung điện này dành cho thái tử cùng hoàng tộc sống trong mùa mưa. Bao quanh các cung điện vua Tịnh Phạn yêu cầu các quan cận thần xây một hoa viên để thư dãn có hồ sen với đủ màu đủ loại nở hoa quanh năm. Đây cũng là nơi dành cho thái tử cưỡi ngựa. Tuy nhiên, những cung điện sa hoa này vẫn không thể nào chiếm được trái tim của thái tử Tất Đạt Đa.

 

 

 

Vua Tịnh Phạn nói:
“Không điều gì có thể làm cho thái tử hạnh phúc”

Thời gian thấm thoát trôi đi, thái tử đã trưởng thành, vua Tịnh Phạn nhận ra rằng dù ngài có cung phụng cho thái tử nhiều thế nào chăng nữa thì chàng cũng không mảy may quan tâm. Thái tử Tất Đạt Đa nói: “Những thứ được dâng lên đó đều không phải là niềm hạnh phúc thật sự”.

 

 

 

Buổi hội đàm của các bậc hiền nhân, các nhà thông thái
và các quan đại thần

Nhà vua lại triệu tập bá quan văn võ, các nhà thông thái và hiền nhân tìm cách thay đổi ý định gia nhập giới tu hành của thái tử Tất Đạt Đa theo như lời tiên đoán của nhà thông thái nọ. Các vị này đều tâu với đức vua rằng cách duy nhất để thái tử thôi ngay ý nghĩ muốn xa rời thế giới trần tục là tìm cho thái tử một thiếu nữ xinh đẹp nhất kinh thành rồi cưới làm vợ. Nếu việc này thành công ắt thái tử sẽ bớt thời gian mơ tưởng đến những việc khác. Đó sẽ là lúc thích hợp để truyền ngôi cho thái tử. Nhà vua đồng ý với kế hoạch đó và tin rằng chỉ còn một cách duy nhất đó thôi.

 

 

 

Vua Tịnh Phạn đồng ý với kế hoạch

Hoàng thượng ra lệnh mở một dạ tiệc lớn trong hoàng cung và mời những thiếu nữ xinh đẹp nhất kinh thành đến tham dự. Các thiếu nữ sẽ bước đến trước mặt thái tử và nhận lấy một món quà từ tay chàng tùy thuộc vào vẻ đẹp của họ. Các quan cũng được bố trí ẩn nấp ở gần đó để tìm hiểu xem thái tử tỏ vẻ ưa thích ai nhất. Thế nhưng nhà vua và các vị quan đã không thể lay chuyển được suy nghĩ của thái tử theo sự sắp xếp này và vì vậy mọi kế hoạch đành kết thúc.

 

 

 

 

Thái tử kén vợ

Thành Ka Tỳ La Vệ trở nên thật náo nhiệt vì cái tin thái tử kén vợ đẹp nhanh chóng bay xa. Các thiếu nữ từ mọi nơi trong khắp kinh thành sẽ diễu qua trước mặt thái tử, từng người một, sau đó mỗi nàng sẽ được thái tử trao cho một món quà. Đó gần như là một trong số những lễ hội tưng bừng nhất. Trong suy nghĩ của các vị quan thì các thiếu nữ hẳn sẽ cảm thấy rất sung sướng và vinh hạnh khi đón nhận món quà từ chính thái tử. Quả đúng vậy, và các nàng còn thấy rất hồi hộp khi được giáp mặt với chàng thái tử tuấn tú nữa. Các nàng đều tỏ ra duyên dáng khi đứng trước thái tử, rồi trở lại chỗ ngồi của mình, lo lắng, phấn chấn, và hạnh phúc khi nghĩ rằng mình sẽ là người được chọn.

 

 

 

Các nàng công chúa xinh đẹp

Thật ra, việc các thiếu nữ ai nấy đều cảm thấy hồi hộp lo lắng khi đứng trước thái tử là điều hết sức tự nhiên. Bởi vì chàng vượt trội hơn hẳn những chàng trai đồng lứa về mọi phương diện: vẻ bề ngoài tuấn tú, tấm lòng nhân hậu, sự thông tuệ cùng với vẻ quý phái tao nhã. Mặc dù thái tử tận tay trao quà cho các thiếu nữ nhưng chàng hoàn toàn không để ý đến sắc đẹp của họ, tâm trí chàng còn mải mê nghĩ đến những chuyện khác quan trọng hơn. Thậm chí một số nàng còn phàn nàn rằng chàng chẳng khác nào một pho tượng. Đúng là chàng chẳng hề nghĩ ngợi gì về hôn lễ mà chỉ nghĩ về những khổ đau của con người và những sinh linh khác.

 

 

 

Thiếu nữ cuối cùng –
công chúa Gia Du Đà La (Yasothara)

Biết bao thiếu nữ đã cáo lui mà vẫn chưa có gì xảy ra. Thái tử vẫn ngồi bất động, rõ ràng là vẻ kiều diễm của các thiếu nữ không hề thu hút được chàng. Khi mọi việc tưởng như đã kết thúc thì bỗng nhiên xuất hiện một thiếu nữ. Nàng đến muộn, vội vàng đến trình diện trước thái tử. Đây chính là một tình huống mà hai người đã trải qua trong kiếp trước.

 

 

 

Công chúa Gia Du Đà La xin phép được nói

Các quan đại thần để ý thấy rằng khi thiếu nữ này tiến đến trước thái tử, nhìn thẳng vào mắt chàng với nụ cười trên môi và hỏi rằng liệu có còn món quà nào dành cho nàng, trông thái tử có phần vui vẻ hơn hẳn. Thái tử nói rằng tất cả các phần quà đều đã được trao hết, nhưng vẫn còn một món quà khác dành cho nàng. Nói rồi chàng cởi luôn chuỗi hạt của mình rồi đeo vào cổ tay công chúa Gia Du Đà La.

 

 

 

Vua Tịnh Phạn và lời quân sư của các quan đại thần

Các quan đại thần đều tỏ ra rất vui mừng. Sau khi tìm hiểu, họ biết rằng thiếu nữ đó chính là công chúa Gia Du Đà La, ái nữ của đức vua Thiện Giác (Soupaputta) - đức vua trị vì thành Thiên Tý (Thevathaha) vốn đã có mối quan hệ hôn nhân từ trước với thành Ka Tỳ La Vệ. Họ vội đến tâu với vua Tịnh Phạn. Ngày hôm sau, nhà vua liền phái một đoàn người gồm những những vị quan đại thần đến thăm viếng đức vua Thiện Giác và xin dạm hỏi công chúa cho thái tử Tất Đạt Đa.

 

 

 

Lễ hội truyền thống trước lễ cưới

Dòng họ Thích Ca được coi là hùng mạnh nhất ở thung lũng Himmalayan. Theo tục lệ, trước lễ thành hôn của mình, chàng trai phải chứng tỏ tính can trường dũng mãnh của mình trong hàng loạt các cuộc so tài: đua ngựa, bắn cung, đấu kiếm. Thái tử không phải là trường hợp ngoại lệ, chàng cũng sẽ phải đấu sức với tất cả các thanh niên trai tráng trong kinh thành để truyền thống đó có thể được duy trì cho các thế hệ sau này.

 

 

 

Mũi tên trúng đích của thái tử Tất Đạt Đa

Vào ngày ấn định, các chàng trai võ nghệ cao cường, giỏi cung tên, đua ngựa và đấu kiếm đều có mặt để khoe tài trước mặt các sư phụ và đám đông. Thái tử Tất Đạt Đa đến tham dự cùng con tuấn mã Kiền Trắc. Tại cuộc thi, chàng đã chứng minh được tài đua ngựa, bắn cung khi thắng tất cả các đối thủ trong kinh thành. Vào thời điểm đó, Thái tử Thevathat được mệnh danh là tay xạ thủ cừ nhất. Hai thái tử là anh em họ với nhau.

 

 

 

Cuộc thi đấu kiếm

Trong cuộc thi đấu kiếm, thái tử Tất Đạt Đa đã dùng kiếm chặt đổ một cây lớn trong tích tắc. Nhát chém đẹp, nhanh và tinh vi đến mức sau khi chém thân cây vẫn nguyên đó như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Khi ngọn gió nhẹ lướt qua, thân cây đổ rạp xuống trước sự ngạc nhiên của đám đông. Vào thời điểm đó, thái tử Nandha được coi là kiếm sĩ giỏi nhất vương quốc và tất cả đều tin rằng không ai có thể là đối thủ của chàng. Nhưng cuối cùng, thái tử Tất Đạt Đa đã đánh bại được thái tử Nandha. Điều này chứng tỏ thái tử Tất Đạt Đa là kiếm sỹ cừ nhất. Thái tử Tất Đạt Đa và thái tử Nandha là anh em cùng cha khác mẹ.

 

 

 

Cuộc thi đua ngựa

Trong cuộc thi đua ngựa, thái tử Tất Đạt Đa cưỡi con ngựa bạch Kiền Trắc của mình. Thái tử phi ngựa nhanh và xa hơn bất kỳ ai. Điều này đã gây ra sự bất bình trong một số tay đua. Họ cho rằng thái tử thắng cuộc là vì chàng được cưỡi con tuấn mã tốt và chạy nhanh nhất vương quốc, rằng họ cũng có thể thắng cuộc nếu được cưỡi con tuấn mã đó. Có ý kiến cho rằng vậy thì thái tử và các tay kị kỹ khác hãy cùng cưỡi một con ngựa ô chưa được thuần hóa và chưa có ai cưỡi bao giờ để xem ai có thể ngồi trên lưng ngựa lâu nhất. Mọi người cùng nhất trí vậy. Chỉ người nào có tấm lòng nhân ái với loài vật mới có thể làm được điều đó.

 

 

 

Thi tài cưỡi ngựa hoang

Từng người một cố hết sức nhảy lên lưng ngựa. Nhưng không ai trong số họ gặp may mắn và lần lượt đều bị hất ngay xuống đất. Đến lượt thái tử Orasun. Vào thời điểm đó, thái tử Orasun được coi là kị sỹ cừ nhất vương quốc. Chàng nhẹ nhàng nhảy lên lưng ngựa, quất roi rồi cưỡi ngựa xung quanh khu vực đua tài. Mọi người ai nấy đều ngạc nhiên, nhưng họ biết sớm muộn chàng cũng sẽ phải thất bại giống như những kị sỹ trước.

 

 

 

Thái tử Orasun phải đầu hàng trước con ngựa bất kham

Không lâu sau, bỗng nhiên con ngựa hoang hất mạnh đầu, lồng lên rồi hất thái tử Orsasun xuống đất. Đã thế trong khi thái tử vẫn còn đang nằm trên mặt đất, con ngựa cố sức dùng chân dày xéo lên thái tử, may mà đám cận vệ đã kịp lao vào chặn lại. Đó chỉ là vì thái tử đã bất cẩn khi đặt tính mạng mình trên một con ngựa nguy hiểm nhường ấy . Lẽ ra nó đã để cho chàng cưỡi trên lưng nó , nhưng vì chàng đã quất roi vào nó rồi diễu đi trước mặt đám đông nên nó đã hất chàng xuống. Có lẽ với con ngựa hung hãn nhường này chỉ những người có trái tim nhân hậu mới thuần phục được.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa
chinh phục con ngựa hoang

Cũng giống như những người trước đó, thái tử Tất Đạt Đa sẽ phải cố sức để có thể cưỡi được chú ngựa hoang. Giờ đã đến lượt chàng. Khán giả đều tin rằng thái tử thế nào cũng bị con ngựa giết chết và cầu xin chàng đừng bước vào cuộc đấu. Ngay cả thái tử Orsasun, người được mệnh danh là kị sỹ giỏi nhất kinh thành cũng suýt nữa thì mất mạng. Nhưng thái tử vẫn yêu cầu thả ngựa ra. Chậm rãi và dứt khoát, thái tử bước đến con ngựa, tay phải đặt lên bờm ngựa còn tay trái dịu dàng vuốt ve vai nó. Vừa vuốt ve, chàng vừa thì thầm điều gì đó vào tai con ngựa.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa
chinh phục được trái tim của chú ngựa

Khán giả có mặt tại cuộc đua đều rất ngạc nhiên chứng kiến cảnh con ngựa đứng yên để thái tử leo lên và cưỡi xung quanh bãi đấu mà không cần dùng chút vũ lực nào. Lần đầu tiên, đám đông được chứng kiến một điều lạ lùng như thế. Có thể đó là vì chưa từng có ai dịu dàng với nó như vậy. Người xưa có câu “Cái thiện thắng cái ác, tình thương thắng bạo tàn”, những người có tâm hồn trong sáng, chân thành ắt sẽ chiến thắng kẻ có đầu óc hiểm độc.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa
chiến thắng một cách thuyết phục

Mọi người đều công nhận thái tử Tất Đạt Đa là tay xạ thủ cừ nhất, kị sỹ giỏi nhất và kiếm sỹ tài ba nhất vương quốc. Chàng là người thích hợp nhất sánh đôi với công chúa Gia Du Đà La. Vua Tịnh Phạn vô cùng hạnh phúc vì lúc đầu, ngài cứ nghĩ thái tử chỉ mang bản tính yếu đuối của một nhà tu hành. Về phần vua Thiện Giác, cha của công chúa Gia Du Đà La, ngài vui mừng khôn xiết vì đã kén được một chàng rể vừa thông minh vừa tài giỏi về mọi mặt là thái tử Tất Đạt Đa. Bởi vậy, ngài đã không ngần ngại gả công chúa Gia Du Đà La cho chàng. Một lần nữa, thái tử Tất Đạt Đa đã chứng tỏ khả năng diễn thuyết và nghệ thuật chiến đấu của mình.

 

 

 

Lễ thành hôn của thái tử Tất Đạt Đa
và công chúa Gia Du Đà La

Cuối cùng, thái tử Tất Đạt Đa đã kết hôn cùng công chúa Gia Du Đà La. Thái tử lên ngôi và trị vì vương quốc ở tuổi 16, tức là giữa năm Sửu. Sau lễ thành hôn, đôi vợ chồng chuyển đến sống ở cung điện xây riêng cho thái tử và vị hôn thê với bao niềm hạnh phúc. Vua Tịnh Phạn vui mừng khôn xiết và tin rằng thái tử của ngài sẽ không từ bỏ ngai vàng để xuất gia tu hành như lời tiên đoán. Tuy nhiên, niềm hạnh phúc mà đức vua mang đến cho thái tử Tất Đạt Đa chỉ là nhất thời và không kéo dài lâu.

 

 

 

Niềm hạnh phúc tuyệt đỉnh theo suy nghĩ của người bình thường

Để ngăn ngừa ý nghĩ xuất gia đi tu hay kiếm tìm Đạo giải thoát (Mokkha Dhamma) của thái tử Tất Đạt Đa, Vua Tịnh Phạn đã ra lệnh cho tất cả mọi người trong cung không được đề cập đến bất cứ điều gì bất hạnh, đau buồn liên quan đến những chuyện vô thường như Lão, Bệnh, Tử. Ngài còn ra lệnh cho những người hầu cận của thái tử phải luôn tỏ ra vui vẻ. Ngay cả khi nhảy múa ca hát, tất cả phải luôn vui vẻ và che dấu mọi sự mệt mỏi. Nhưng chưa một ngày nào kể từ khi biết nhận thức, thái tử Tất Đạt Đa có được niềm hạnh phúc thật sự. Những gì được cung phụng, dâng tặng cho chàng chưa bao giờ chàng coi là niềm hạnh phúc thật sự.

 

 

 

Bức tường thành ngăn cách
cung điện với cuộc sống bên ngoài

Ngoài ra, vua Tịnh Phạn còn ra lệnh xây những bức tường thành kiên cố bao quanh hoàng cung và vườn Thượng Uyển. Không ai được phép thăm viếng thái tử ngoại trừ những chàng trai hay thiếu nữ trẻ đã được tuyển chọn vì họ luôn là những người vô tư, tràn đầy sức sống. Nếu có ai bị ốm, họ sẽ phải rời khỏi cung điện và chỉ trở lại sau khi đã hoàn toàn bình phục. Vua Tịnh Phạn cũng ra lệnh cho thị vệ phải đứng canh chừng ở những cổng lớn không cho thái tử bước chân ra khỏi hoàng cung.

 

 

 

Những thú vui giả tạo giành cho thái tử

Vua Tịnh Phạn ra lệnh cho các quan đại thần trong cung liên tục tổ chức tiệc tùng, đàn ca nhảy múa dành riêng cho thái tử Tất Đạt Đa. Nhưng cho dù những vũ nhạc công hay những anh hề dù cố gắng đến đâu chăng nữa, họ cũng không thể khơi lên được trong thái tử niềm hạnh phúc thật sự và nỗi buồn vẫn cứ chồng chất trong trái tim chàng. Thái tử không có được hạnh phúc như đức vua mong đợi. Thái tử mong muốn được nhìn ngắm thế giới bên ngoài. Chàng ước ao được gặp gỡ dân chúng để xem cuộc sống của họ hạnh phúc đến đâu. Chàng ước ao được biết sự thật và đã nhiều lần xin phép vua cha được du ngoạn ra ngoài thành.

 

 

 

Loan báo về chuyến du ngoạn
của thái tử Tất Đạt Đa

Cuối cùng, vua Tịnh Phạn đành chấp thuận. Ngài không thể từ chối lời thỉnh cầu của thái tử mãi được. Vua Tịnh Phạn ra lệnh cho quân lính loan tin về chuyến du ngoạn của thái tử và đặc biệt lệnh cho dân chúng phải trang hoàng lại nhà cửa và nghỉ làm việc vào ngày đó. Những kẻ ốm đau, bệnh tật, già yếu không được phép ra đường, phải tránh xa những nơi mà thái tử đi qua.

 

 

 

Chuyến du ngoạn của thái tử

Khi mọi việc đã sẵn sàng, chiếc xe ngựa được trang hoàng lộng lẫy đã chờ sẵn để đưa rước thái tử ra ngoài thành, nơi dân chúng đang háo hức đón chờ chuyến viếng thăm của chàng. Thái tử đi qua các con phố, đâu đâu chàng cũng thấy dân chúng tươi vui hớn hở, hoa giăng đầy đường.

 

 

 

Sự xuất hiện của bốn vị Đê va trước thái tử

Bỗng nhiên, một lão già lưng còng chống gậy bước tới. Trông lão móm mém, tóc bạc, đôi mắt nhoèn nhoẹt nước, khuôn mặt khắc khổ đầy nếp nhăn, trên mình chỉ còn trơ lại một miếng vải rách. Không ai kịp ngăn lão lại. Lão đang xin ăn, trông có vẻ như đói lắm rồi, nếu không được của bố trí thì lão chết mất. Thái tử thấy động lòng trước sự xuất hiện của lão. Đây là hình hài cải trang đầu tiên của bốn vị Đê va được phái xuống trần gian. Vị này cải trang thành một lão già. Ba hình hài khác của ba vị Đê va còn lại là một người ốm yếu, một xác chết và một vị sư tiểu.

 

 

 

Những nỗ lực hòng ngăn lão già lại

Tất cả những ai đang đón mừng thái tử đều cố ngăn lão già lại để chàng không nhìn thấy, nhưng đều vô ích vì thái tử đã trông thấy lão. Sự xuất hiện của lão đã gây một cú sốc lớn cho thái tử, hé mở cho thái tử một sự thật rằng Sankhara (Hành - sự hình thành cơ thể con người) của con người là vô thường, thân xác rồi cũng có lúc phải chịu già nua.

 

 

 

Thái tử rất quan tâm đến hình hài cải trang của bốn vị Đê va

Sau khi gặp lão già, tâm trạng thái tử rất xáo trộn. Trông lão chẳng khác gì loài vật. Chàng hỏi tên hầu cận của mình là Xa Nặc ( Sana ) về lão già: Loài vật gì vậy? Nếu là người sao lại còng lưng, không đứng thẳng giống những người khác? Sao tóc lại bạc mà không đen? Chuyện gì xảy ra với đôi mắt của lão? Răng lão đâu rồi? Ai về sau cũng như thế này cả sao? “Hãy mau trả lời, ta vừa nhìn thấy cái gì vậy? Chuyện gì đã xảy ra vậy Xa Nặc?” Xa Nặc thấy không thể giấu được sự thật đành kể hết mọi chuyện cho thái tử.

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa
tìm hiểu sự thật về loài người

Xa Nặc tâu với thái tử rằng hình hài mà thái tử vừa nhìn thấy chính là con người. Đó là một cụ già. Khi mới sinh ra, lưng lão không bị còng mà trông lão cũng giống như những người bình thường khác. Thời trẻ, lão cũng khỏe mạnh, tóc đen, mắt sáng, trí tuệ minh mẫn. Nhưng giờ đây, vì đã sống lâu nên lão trở nên già nua thế này. Đây là một quy luật tự nhiên, không ai tránh được cả. Thái tử nghi ngờ hỏi lại Xa Nặc rằng liệu hắn có chắc chắn rằng ai sống lâu cũng trở thành như vậy không và tại sao từ trước đến nay không có ai nói với chàng về điều này. Thái tử trong lòng thấy rất bối rối và xáo trộn. “Hành - Sankhara có nguồn gốc tạo thành riêng của nó và sẽ tồn tại theo quy luật tự nhiên”.

 

 

 

Thái tử hỏi về “diễn tiến của cuộc sống

Xa Nặc khẳng định lại với thái tử rằng ai cũng sẽ trở thành như vậy khi đến tuổi già yếu như ông già kia. Thái tử hỏi lại “Tất cả mọi người ư? Cả ta, cha mẹ ta, anh em ta và hoàng gia ta ư? Tất cả đều trở thành như vậy ư?” Xa Nặc tâu “Thưa vâng, tất cả, không loại trừ một ai”. Một sự thật hiển nhiên – có sinh ắt có lão, có bệnh và có tử – không ai ngăn được quy luật đó.

 

 

Thái tử trở về hoàng cung trong nỗi lo lắng

Sau khi nghe được sự thật từ Xa Nặc, thái tử Tất Đạt Đa lập tức hạ lệnh cho đoàn tùy tùng xa giá hồi cung. Chàng không còn tâm trạng nào để gặp gỡ dân chúng nữa sau khi đã tận mắt thấy một hình hài kinh sợ và gây xáo trộn nhất mà chàng từng thấy. Thái tử nhận ra rằng sẽ có ngày chàng mất hết sinh lực, không còn hạnh phúc và sẽ già nua giống như ông lão kia. Chàng sẽ không thể giúp ai thoát khỏi quy luật này cho dù họ là ai đi nữa: kẻ giàu hay người nghèo, vua chúa hay thường dân. Tất cả cùng chung một số phận tùy theo nghiệp chướng (Karma) của mình, kể cả thái tử. Đúng như một câu tục ngữ của Ấn Độ “Kammunna Wattatiloko” nghĩa là “Người trần sống theo nghiệp chướng riêng của mình.”

 

 

Thái tử nói:
Quy luật tự nhiên diễn ra theo cách riêng của nó

Buổi tối hôm đó, từ ngoài thành trở về, thái tử không tài nào chợp mắt được. Chàng không nguôi nghĩ về quá trình lão hóa mà chàng và hoàng hậu sau này sẽ phải đối mặt, giống như lão già mà chàng gặp sáng nay. Chàng không nguôi nghĩ “Liệu có ai trên thế gian này biết cách tránh được tuổi già không nhỉ?” Nếu chàng dâng hiến cả cuộc đời cùng nguồn sinh lực của mình để tìm ra được cách nào thoát khỏi tuổi già, chẳng phải sẽ có ích cho bản thân chàng và mọi người trên thế gian này ư? Thái tử Tất Đạt Đa muốn chạy trốn Dukkha (đau khổ). Chàng mong muốn điều này cho cả những người khác nữa. Nhưng vì không tìm ra được phương cách nào nên trong lòng chàng lúc nào cũng lo âu buồn bã.

 

 

 

Vua Tịnh Phạn nói:
“Điều này vượt ngoài vòng kiểm soát”

Mọi việc đều được bẩm báo chi tiết lên vua Tịnh Phạn. Nhà vua hết sức thất vọng và đã lệnh cho thị vệ phải làm bất cứ điều gì có thể để mua vui cho thái tử. Tuy nhiên, mọi cố gắng của họ đều thất bại. Thái tử Tất Đạt Đa lại tiếp tục xin phép nhà vua đi du ngoạn một mình ngoài kinh thành để chàng có thể chứng kiến cuộc sống thường ngày của dân chúng để tìm ra một vài chân tướng của sự thật. Thái tử đã quyết tâm rời khỏi cung điện cùng với Xa Nặc, người hầu cận của chàng.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa cùng Xa Nặc rời khỏi cung điện

Vua Tịnh Phạn không hề muốn cho chàng ra khỏi thành vì sợ rằng chàng sẽ tận mắt chứng kiến cuộc sống của dân chúng. Ngài càng lo sợ hơn nếu để chàng nhìn thấy những nông dân nghèo, những người không xuất thân từ hoàng cung hay gia đình giàu có. Những người này phải vật lộn với cuộc mưu sinh. Ngài cũng sợ rằng thái tử sẽ nhìn thấy những nỗi đau vô thường của con người – lão, bệnh, tử. Điều này gợi cho nhà vua nhớ đến lời tiên tri ngày trước, điều khiến ngài lo sợ sẽ trở thành hiện thực. Vua Tịnh Phạn không nhận ra rằng Ngài càng cố gắng can ngăn thái tử bao nhiêu càng khiến chàng đau khổ bấy nhiêu. Nhưng vì tình yêu thương dành cho chàng nên ngài đã quyết định cho phép chàng ra ngoài thành. Cuối cùng, thái tử đã có cơ hội rời khỏi cung điện như chàng ao ước.

 

 

Người thợ rèn –
những điều thái tử muốn biết

Thay vì du ngoạn bằng xe ngựa, lần này thái tử Tất Đạt Đa đi bộ ra khỏi thành cùng với hầu cận Xa Nặc và hai thị vệ khác. Thái tử ăn mặc giả làm một công tử con nhà giàu, đám người còn lại mặc trang phục bình thường để không ai có thể nhận ra họ. Điều này giúp chàng có thể được tận mắt thấy những gì chàng mong muốn mà không bị kẻ khác dòm ngó. Trong chuyến đi, chàng đã gặp một người thợ rèn. Anh ta đang chế tạo ra đủ loại dụng cụ. Chàng rất quan tâm đến người này.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa viếng thăm kinh thành

Dọc theo đường phố, nhà cửa và các tiệm kim hoàn nằm san sát. Thái tử thấy có rất nhiều đồ trang sức với đủ loại hình dạng và kích cỡ, thấy mọi người tấp nập mua bán. Chàng cũng nhìn thấy những người thợ đang nhuộm vải đầy phố. Một vài cửa hiệu bán đủ loại bánh, khách đến phải xếp hàng để chờ mua những mẻ bánh mới ra lò. Thái tử cảm thấy vô cùng hạnh phúc được thấy cảnh buôn bán nhộn nhịp của người dân. Bởi vậy chàng không hề tỏ ra mệt mỏi. Tuy nhiên, niềm hạnh phúc mà chàng đang có được vẫn không phải là niềm hạnh phúc mà chàng đang tìm kiếm.

 

 

 

Quy luật tự nhiên: sinh – lão – bệnh – tử

Cuối cùng, niềm hạnh phúc khi được chứng kiến cuộc sống hàng ngày của dân chúng cũng qua đi. Trong khi đang dạo bước dọc theo các con phố, chàng nghe thấy tiếng khóc kêu cứu. Ở không xa nơi chàng đứng, chàng nhìn thấy một người đang bò lết trên đường lộ vẻ đau đớn, trên người lấm chấm những nốt đỏ. Mỗi khi muốn gượng dậy, đôi mắt cậu ta lại nhắm nghiền và ngã vật xuống. Cậu ta đang bị bệnh. Đây là chuyện bình thường trong cuộc sống con người, không ai có thể tránh được.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa cố gắng hỏi chuyện người bị bệnh

Do bản tính nhân từ, chàng chạy ngay đến chỗ cậu thanh niên ốm yếu và đỡ cậu dậy. Chàng nhẹ nhàng nâng đầu cậu ta đặt lên đầu gối mình để cậu cảm thấy dễ chịu hơn. Khi cậu thanh niên có vẻ đã bớt mệt, thái tử mới hỏi “Chuyện gì xảy ra vậy và tại sao cậu lại không đứng dậy được?” Cậu ta cố gắng trả lời thái tử nhưng không thốt nên được lời nào vì quá yếu. Khi Xa Nặc và đám tuỳ tùng đến nơi, thái tử bèn quay sang hỏi Xa Nặc “Xa Nặc, hãy nói cho ta biết chuyện gì xảy ra với cậu ta vậy? Tại sao cậu ta chỉ nằm im một chỗ? Tại sao tiếng thở nghe khiếp vậy? Tại sao cậu ta không trả lời câu hỏi của ta?” Sinh, lão bệnh, tử đều là những yếu tố bình thường của mọi Sankhara (sự hình thành cơ thể con người), dù đó là con người hay loài vật đều phải chấp nhận quy luật này.

 

 

 

Xa Nặc ngăn không để thái tử Tất Đạt Đa
chạm vào người bị bệnh

Xa Nặc hoảng sợ khi thấy thái tử Tất Đạt Đa chạm vào cậu thanh niên bệnh tật đó. Chàng ta ngăn không để thái tử chạm vào người bệnh rồi sau đó trả lời “Cậu ta bị bệnh truyền nhiễm. Máu có độc khiến cậu ấy thở rất nặng nhọc, rồi cậu ấy sẽ ngạt thở và chết'. Thái tử lại hỏi Xa Nặc “Thế mọi người, kể cả ta đều sẽ bị đau yếu giống cậu ta à?” Xa Nặc trả lời “Thái tử cũng có thể bị bệnh nếu cứ chạm vào người cậu ấy. Xin cứ để cậu ấy nằm đó và đừng động chạm đến người cậu ta nữa, nếu không căn bệnh sẽ truyền sang người thái tử” . Nhưng vì lòng nhân từ với mọi sinh linh trên thế gian này, thái tử một mực đòi giúp đỡ cậu thanh niên. Chàng nhận ra rằng không ai có thể thoát được quy luật của tạo hoá. Mọi sự sống đều có điểm dừng của riêng nó.

 

 

 

Những đau khổ tự nhiên: Sinh, bệnh, tử

Thái tử hỏi Xa Nặc “Còn nhiều kiểu bệnh khác nữa không?” Xa Nặc trả lời “Có vô vàn kiểu bệnh khác nhau, một số rất nguy hiểm và gây đau đớn cho con người” . Thái tử lại hỏi “Thế có ai chữa được những căn bệnh nguy hiểm và sự ốm yếu mà con người đang phải đối diện không? Có cách nào chế ngự bệnh tật không? Điều này thật kì lạ!' Đây chính là cuộc sống và chuyện đó là bình thường. Không ai biết được khi nào thì mình sẽ bị bệnh. Bất cứ ai, vào bất cứ thời điểm nào đều có thể bị bệnh. Thái tử hỏi thêm Nó sẽ xảy ra với tất cả mọi người không kể địa vị xã hội như vua chúa, người giàu hay kẻ nghèo ư? Nó sẽ xảy ra với ta chứ?” Xa Nặc trả lời “Vâng, sự thật là thế, rồi một ngày thái tử cũng sẽ đau yếu rồi qua đời” Đúng như một câu tục ngữ của Pali “Jara Dhamomahi Jarang Anitito” nghĩa là “đau yếu là chuyện thường tình của đời người, không ai có thể tránh được.”

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa không nguôi
nghĩ về những khổ đau của con người

Thái tử Tất Đạt Đa nói “Nếu đúng như vậy thì loài người trên thế gian này lúc nào cũng phải sống trong lo sợ! Sẽ ra sao nếu đêm nay đi ngủ có thể sẽ không tỉnh giấc vào sáng mai nữa! Sẽ ra sao nếu ta cũng bị bệnh giống như người mà chúng ta vừa gặp. Những điều đó là không đúng phải không Xa Nặc?” Xa Nặc đáp “Thưa không, đó đúng là sự thật. Chẳng có ai trên đời này biết được khi nào thì mình bị bệnh và bị bệnh gì trước khi chết” . Xa Nặc nhìn về phía trước rồi nói với thái tử “ Xin thái tử hãy mở mắt nhìn cái chết theo một cách khác – thái tử sẽ thấy rằng cái chết là một thực tế của cuộc sống. Không ai có thể tránh được. Vấn đề chỉ là chết như thế nào và khi nào chết thôi.”

 

 

 

Xa Nặc nói với thái tử Tất Đạt Đa
rằng “Ai rồi cũng sẽ phải chết”

Thái tử Tất Đạt Đa ngoảnh đầu về phía khác theo lời khuyên của Xa Nặc. Chàng nhìn thấy một đám đông đi dọc theo phố, khóc lóc. Đi đầu có bốn người đang khiêng một người nằm trên cáng. Miệng người đó há hốc, trông rất đáng sợ. Đám rước xuất hiện ầm ĩ và có vẻ người nằm trên cáng không thoải mái cho lắm. Mặc dù được nhấc bổng lên, khiêng lắc lư trên một chiếc cáng nhưng người đó vẫn không nói một lời nào. Khi đám người đi qua thái tử, chàng rất bối rối không biết tại sao những người đi sau cáng lại khóc và tại sao cái người nằm trên cáng lại không bảo những người khiêng hãy cẩn trọng hơn. Giống như một câu tục ngữ tiếng Pali: Moranang Dukkhang” nghĩa là “Cái chết là điều tự nhiên mà con người sẽ phải giáp mặt, vấn đề chỉ ở chỗ khi nào mà thôi?”

 

 

 

Sankhara anicca –
khi con người chết đi, thân xác sẽ tiêu tan hết

Khi đám rước đi qua thái tử được một quãng ngắn, những người khiêng đặt cái cáng trên một đống gỗ và bắt đầu châm lửa. Nhưng người nằm trên cáng vẫn không hề nhúch nhích khi ngọn lửa bùng lên. Thái tử ngày càng thấy kì lạ, liền hỏi Xa Nặc, giọng run run “Chuyện gì xảy ra thế? Tại sao họ lại thiêu người đàn ông nằm trên cáng? Sao ông ta lại không nói gì cả?” Xa Nặc trả lời “Đây là một người đã chết. Ông ta không còn cảm giác gì nữa dù là nóng hay lạnh. Ông ta không biết bởi vì ông ta đã chết. Ông ta không còn sống nữa. Cuộc sống giờ trống rỗng, thân xác không còn nữa. Điều duy nhất vẫn còn mãi là những việc tốt hay xấu mà ông ta đã làm khi còn sống.”

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa
đặt thêm nhiều câu hỏi cho Xa Nặc

Thái tử Tất Đạt Đa hỏi Xa Nặc “Ngươi đã giải thích về cái chết cho ta, nhưng liệu ta và những người khác có phải chết không?” Xa Nặc đáp lại “Cái chết không có giới hạn, không có lựa chọn, nhà vua hay dân thường, kẻ giàu hay người nghèo, tất cả đều phải chết. Bất kỳ vật gì có sự sống, một ngày kia đều phải chết. Không ai ngăn cản được cái chết . Nghe xong những lời giải thích này, thái tử cảm thấy bàng hoàng không thốt nên lời nào. Không có cách nào trốn thoát được cái chết, chính điều này đã kiểm soát chi phối mọi sinh vật sống trên thế gian. Một ngày kia, chúng ta sẽ phải rời xa những người mà ta yêu quý hay ghét bỏ. Thái tử lo lắng suy nghĩ Chẳng nhẽ lại không có ai ngăn được điều này ư?”

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa suy ngẫm về những điều mới chứng kiến

Thái tử Tất Đạt Đa lặng lẽ trở về hoàng cung. Chàng đến thẳng tẩm cung và suy nghĩ về những điều tai nghe mắt thấy. Chàng suy ngẫm về cái chết rồi nghĩ “Cái chết thật đáng sợ. Ai trên thế gian này rồi cũng có ngày phải chết mà không thể nào thoát được và cũng không có cách nào ngăn được” . Nhưng rồi chàng lại nghĩ “Có thể vẫn có một cách nào đó để thoát khỏi cái chết, tự mình sẽ phải tìm ra điều đó để bản thân mình, cha mẹ, vợ con, họ hàng và tất cả mọi người không ai còn phải chịu khổ đau khi giáp mặt với lão, bệnh, tử” . Để làm được việc này, chàng sẽ phải tìm ra cội nguồn chân lí , nhưng bằng cách nào? Thái tử Tất Đạt Đa lại tiếp tục suy tư.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa gặp một sư tiểu

Một hôm, khi đang cưỡi ngựa dạo chơi trong vườn thượng uyển, thái tử Tất Đạt Đa nhìn thấy một nhà sư vận y vàng. Thái tử chăm chú quan sát nhà sư đó và cố gắng tập trung tâm trí mình vào nhà sư cho đến khi chàng có thể nhìn thấu tâm trí của nhà sư. Chàng cảm thấy được sự yên bình và hòa hợp. Thái tử hỏi Xa Nặc về cuộc sống của các nhà sư. Xa Nặc tâu rằng các nhà sư thường sống một cuộc sống tách biệt với người thường. Họ đi tìm những chân lý có thể phá tan được những khổ đau của Sankhara (Hành). Thái tử Tất Đạt Đa rất hài lòng với câu trả lời này. Xa lánh thế gian - cuộc sống thoát tục, từ bỏ những cái vô thường , tìm kiếm chân lý và nguồn hạnh phúc, đó chẳng phải cũng là những điều mà thái tử đang tìm kiếm sao?

 

 

 

Mối ràng buộc xuất hiện trong cuộc đời thái tử Tất Đạt Đa

Thái tử Tất Đạt Đa tìm chỗ nghỉ chân trong vườn, ngồi xuống và suy ngẫm. Chàng nghĩ đến chuyện rời bỏ thế gian này. Trong khi chàng đang mải suy tư, một thị vệ hối hả chạy đến báo tin công chúa đã hạ sinh cho chàng một hoàng tử. Thái tử Tất Đạt Đa không hề tỏ ra vui mừng mà lại tự nhủ “một nút trói đã bị thắt lại, nút trói đã xuất hiện trong cuộc đời ta” . Đó là lý do tại sao thái tử nhỏ lại tên là La Hầu La (Phra Rahul), nghĩa là nút dây. Khi công chúa Gia Du Đà La hạ sinh thái tử nhỏ, thái tử Tất Đạt Đa đã nói rằng nút dây đã buộc quanh cổ chàng. Giống như một câu nói cổ trong tiếng Pali

“Tình yêu con giống như sợi dây thắt quanh cổ ta

Tình yêu vợ giống như sợi dây buộc quanh tay ta

Tình yêu của cải giống như sợi dây quấn quanh chân ta”

Đó là một dạng đau khổ mà ai muốn quyết tâm tìm kiếm con đường phá tan Dukkha (nỗi khổ) cũng đều phải đối mặt.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa tự nhủ:
“Đó chính là nguồn gốc của đau khổ”

Từ ngày thái tử nhỏ La Hầu La ra đời, những người thân cận của thái tử Tất Đạt Đa đều nhận thấy chàng đã thay đổi. Chàng luôn chìm sâu vào suy nghĩ và điều này khiến cho vua Tịnh Phạn hết sức phiền muộn. Một lần nữa, nhà vua lại truyền lệnh cho mời các nhạc công, vũ nữ vào cung để giải khuây cho thái tử. Mặc dù tất cả đều gắng sức đàn ca múa đẹp nhưng mọi nỗ lực mua vui cho thái tử đều vô ích. Trong khi ai ai cũng tin rằng đàn ca múa hát là một nguồn gốc sinh ra hạnh phúc thì Tất Đạt Đa lại tin vào điều ngược lại (Thái tử có đến 60.000 mỹ nữ phi tần trong cung).

 

 

 

Thái tử biết rõ những đau khổ trong trái tim chàng

Thoạt đầu, thái tử Tất Đạt Đa nghe lời phụ hoàng miễn cưỡng thưởng ngoạn các trò giải trí vì chàng không muốn làm cha buồn. Nhưng chàng không hết lòng chú tâm được vì tâm trí còn mải nghĩ đến việc làm sao thoát khỏi tuổi già, bệnh tật và cái chết. Cuối cùng, chàng rơi vào giấc ngủ. Các vũ nhạc công đều đã ngừng múa hát đàn ca. Tâm trí thái tử mơ hồ trong sự trống rỗng và xáo trộn.

 

 

 

Những phát hiện mới của thái tử Tất Đạt Đa về cái đẹp?

Khi thái tử Tất Đạt Đa tỉnh dậy, chàng nhìn quanh thấy tất cả các mỹ nữ kiều diễm vẫn đang say sưa ngủ vì mệt. Trông họ lúc này không còn gì là vẻ đáng yêu nữa. Người thì há hốc mồm, dãi chảy cả xuống cằm, người khác thì vừa ngủ vừa nghiến răng. Nhìn họ thật dữ tợn và xấu xa. Thái tử Tất Đạt Đa tự hỏi “Mình đã từng yêu thích những người này ư, vậy thì vì sao nhỉ? Chỉ có thể giải thích được là cần phải dùng đầu óc của một người được giáo dục tốt và có chính niệm để nhìn nhận con người khi đánh giá nguyên nhân của đau khổ và bất hạnh.”

 

 

 

Khổ đau do Rupa, Rosa, Sadda, Gandha, Bhodhappa và
Dhammarom sinh ra

Hình ảnh của những vũ công và mỹ nữ trước đây hiện lên thật kiều diễm và đáng yêu đối với thái tử, nhưng lúc này trông thật gớm ghiếc, đáng sợ. Kể từ khi ra đời, thái tử Tất Đạt Đa đã có ý nghĩ rằng nếu một ngày, có bất cứ điều gì khiến tâm trí chàng xáo trộn thì chàng sẽ từ bỏ nó mà đi kiếm tìm chân lý và niềm hạnh phúc để xua tan những xáo trộn này. Thái tử Tất Đạt Đa lặng lẽ rời khỏi phòng để không làm ai tỉnh giấc, rồi lệnh cho Xa Nặc thắng ngay con ngựa Kiền Trắc. Lúc này thái tử Tất Đạt Đa đã sẵn sàng. Chàng đã biết nguồn gốc sự đau khổ và thề sẽ tìm bằng được niềm hạnh phúc và chân lý thật sự.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa đến phòng ngủ của vợ lần cuối

Trong lúc chờ Xa Nặc thắng yên ngựa, thái tử một mình đến tẩm cung, vợ và con chàng đều đang say giấc. Cánh tay nàng dịu dàng ôm ấp thái tử nhỏ La Hầu La. Thái tử muốn cầm lấy bàn tay nàng, nhưng lại sợ nàng sẽ tỉnh giấc và can ngăn không cho chàng đi. Bởi vậy, chàng nghĩ cứ lặng lẽ ra đi có thể sẽ tốt hơn. Tới khi nào tìm được điều mà chàng đang kiếm tìm, chàng sẽ trở về tế độ cho vợ và con. Nghiệp yêu con giống như sợi dây thắt quanh cổ ta, nghiệp yêu vợ giống như sợi dây buộc quanh tay ta. Thế nhưng chàng đã quyết tâm rời xa cung điện, kiếm tìm Mokkha Dhamma. Tốt hơn là ra đi lặng lẽ cho đến khi tu thành chính quả sẽ trở về chúc phúc cho tất cả.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa buồn bã rời xa cung điện

Thái tử Tất Đạt Đa lặng lẽ rời bỏ cung điện vào lúc nửa đêm, không bị ai phát hiện. Chàng dắt ngựa đến cổng thành cùng với Xa Nặc. Sau khi đã ra khỏi cổng thành, thái tử quay người nhìn lại cung điện dưới ánh trăng một lần cuối, lòng chợt dâng lên nỗi buồn, nhưng vẫn quyết tâm ra đi. Chàng tin tưởng sẽ có ngày chàng tìm được Mokkha Dhamma, con đường thoát khỏi những xáo trộn, mà hậu quả của những xáo trộn đó là sự khốn cùng, tan nát, vô vọng và cũng chính là nguồn gốc của khổ đau.

 

 

 

BACK