Lịch sử ĐỨC PHẬT TỔ CỒ ĐÀM TẤT ĐẠT ĐA
Tác giả
LuongTa Chanhphy Manivong
ISBN 0 64634174 x
Tượng Sakayamuni Phrachanhdhavimutisuok
Đúc bằng đồng vàng, hiện là pho tượng bằng đồng lớn nhất ở Australia
Cao: 4,5m – Rộng: 3,5m – Độ dày: 2,5m – Nặng: 4,5 tấn
Ngày khởi công: 21/03/1998
Ngày chuyển đi từ Thái Lan: 21/03/1999
Ngày chuyển đến Australia : 04/04/1999
Thiết kế và tài trợ: LươngTa Chanhphy Manivong
“Tôi cầu chúc mọi chúng sinh trên thế gian này hãy cùng sống mạnh khỏe, sống lâu trong niềm hạnh phúc và yêu thương”.
LuongTa Chanhphy Manivong 20 /8/ 1999.
Tác giả của cuốn sách, LuongTa Chanhphy Manivong, là một tăng sĩ Phật giáo người Lào, sinh ngày 21 tháng 3 năm 1921. Ngài gia nhập Tăng đoàn năm lên 10 tuổi và được thọ Cụ túc giới vào ngày sinh nhật lần thứ 21. Khi còn trẻ, Ngài rất thích du hành khắp đất nước Lào để hành nội thiền (Kammathana) và để tế độ cho những chúng sinh muốn được nghe lời chỉ dạy của Ngài. Khi ấy, tại Lào, Ngài đã được ban tặng danh hiệu Đức đạo sư Chanhphy Manivong.
Mới sáng sớm, thái tử Tất Đạt Đa đã đến được bờ sông A nô ma. Tại đó, chàng cởi bỏ trang phục hoàng cung rồi trao lại cho Xa Nặc. Chàng bảo Xa Nặc báo lại với vua Tịnh Phạn và vợ chàng ở thành Ka Tỳ La Vệ rằng “Thái tử Tất Đạt Đa thuộc dòng tộc Thích ca, ở tuổi 29, đã rời khỏi cung điện và trở thành tu sĩ, từ bỏ thế giới này đi kiếm tìm Mokkha Dhamma để giúp loài người thoát khỏi khổ đau.” Thái tử Tất Đạt Đa hiểu rõ rằng chứng ngộ được đạo giải thoát thật không hề đơn giản.
Sau khi Xa Nặc cùng con tuấn mã Kiền Trắc quay đầu về cung, thái tử Tất Đạt Đa phải mất bảy ngày mới đến được rừng xoài Anupya Ambhavan và nghỉ lại đó. Sau đó, chàng nhằm hướng nam tới vương quốc Ma Kiệt Đà (Makhatha). Nơi đây có thành Vương Xá (Rajjakeu) nằm dưới sự trị vì của đức vua Tần Bà Sa La (Phimphisan). Sáng sớm, sau khi tắm mình dưới dòng sông, thái tử Tất Đạt Đa tiến vào thành để “khất thực” giống như những nhà sư khác. Dân chúng nơi đây nhận thấy chàng không hề giống với những nhà sư mà họ đã từng gặp, trông chàng sạch sẽ, tuấn tú và thật đáng yêu. Bởi vậy nên nhiều người đã dâng mời chàng những món ăn ngon nhất.
Sau khi đã đi khất thực xong, thái tử Tất Đạt Đa đến Bandhava để thọ thực. Trong khi đó, dân chúng thành Vương Xá không ngừng bàn tán về nhà sư lạ mặt mà không có nhà sư nào có thể sánh bằng vì vẻ tuấn tú, đáng yêu của chàng. Cuối cùng tin tức đã đến tai nhà vua Tần Bà Sa La. Ngài liền phái thị vệ đi điều tra ngọn ngành và được biết rằng vị sư này chính là thái tử Tất Đạt Đa, con trai của vua Tịnh Phạn, thái tử của thành Ka Tỳ La Vệ, người đã từ bỏ cung điện để đi tìm kiếm con đường giải thoát khổ đau cho bản thân và cho tất cả chúng sinh.
Sau khi tường tận chuyện về nhà sư mới, vua Tần Bà Sa La đã rời cung, đích thân đến Bhandava mời thái tử Tất Đạt Đa ở lại vương quốc của mình và nguyện sẽ hiến dâng mọi thứ mà chàng cần trên con đường đi tìm chân lý. Nhưng thái tử Tất Đạt Đa đã nhẹ nhàng từ chối nhã ý của quốc vương và nói rằng chừng nào vẫn chưa tìm ra được chân lý thì chàng không thể ở đâu cố định. Vua Tần Bà Sa La lại khẩn cầu chàng hãy trở lại thành Vương Xá đầu tiên ngay sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ cao cả để truyền dạy cho ngài cùng thần dân của ngài. Thái tử Tất Đạt Đa đang tìm kiếm Sacca Dhamma (Pháp đế), qua đó có thể biết được Dukkha (nỗi khổ), hiểu được Dukkha và thoát khỏi Dukkha. Đây là tâm nguyện của thái tử.
Thái tử bế chú cừu non lên và ôm nó trong tay. Khi nhìn thấy một nhóm người chăn cừu, chàng hỏi họ tại sao lại đuổi dồn lũ cừu này dưới thời tiết nắng nóng mà không phải là buổi tối. Họ cho biết đó là lệnh vua. Họ phải mang lũ dê cừu này về thành cho kịp lễ tế thần. Thái tử nói rằng chàng sẽ đi cùng họ và bế chú cừu bị thương trên tay. “ Khi bản thân chúng ta gặp đau khổ, chúng ta mới hiểu nỗi khổ của kẻ khác. Nếu chúng ta không biết rằng ta đang chịu khổ, làm sao ta có thể thoát khỏi nó”.
Vậy là thái tử Tất Đạt Đa cùng đi với nhóm chăn cừu và bầy cừu cho đến khi họ tới được cung điện và khu vực sẽ diễn ra lễ tế thần. Đến nơi, chàng thấy nhà vua, bên cạnh là các giáo sĩ đang ngồi khấn vái thần linh. Ngọn lửa tế thần đã bùng cao và các giáo sĩ đã sẵn sàng tế dâng những con dê và cừu vừa kịp được mang đến. Khi vị giáo trưởng nâng chiếc rìu lên chuẩn bị chặt đầu con cừu đầu tiên đã được đặt sẵn trên bàn tế, thái tử liền ngăn lại.
Theo Dhamma (Pháp), sống dựa vào người khác và cướp đi cuộc sống của người khác vì hạnh phúc của chính mình là điều sai trái. Hủy hoại cuộc sống và gây chết chóc cho người khác là đi ngược lại nguyên tắc của Dhamma. Gây khó khăn phiền nhiễu tới ai đó dù trực tiếp hay gián tiếp đều bị coi là sai trái.
Một hôm, đạo sĩ Ara Karamakoth nói với thái tử Tất Đạt Đa: “Giờ đây con đã thông hiểu hết mọi điều mà ta đã chỉ dạy, trình độ của con giờ đã ngang bằng ta. Vậy con hãy ở lại và cùng ta tiếp tục truyền dạy cho các học trò” . Thái tử hỏi đạo sư xem còn điều gì ngài vẫn chưa truyền dạy cho chàng không, chẳng hạn như sức mạnh để chế ngự cuộc sống, bệnh tật và cái chết. Đạo sư Ara Karamakoth đáp lại rằng ngài không thể dạy chàng những điều này vì kiến thức đã cạn rồi. Sau đó, ngài nói “Thái tử phải đi tìm nguồn gốc của đau khổ cũng như cách thức để tìm ra nó”.
Tu sĩ Karamakoth dạy thái tử Tất Đạt Đa cách tu thiền, tức là cách tập trung tâm trí cho đến khi đạt được trạng thái hoàn toàn vắng mặt các nhận thức, tâm trí an tịnh và hài hoà. Tuy nhiên, kiến thức mà thái tử đã lĩnh hội trong những năm qua vẫn chưa đủ, đâu đâu chàng cũng vẫn nhìn thấy những chuyện vô thường của cuộc sống như khổ, lão, bệnh, tử nên chàng xin phép sư phụ được ra đi, tiếp tục tầm sư học đạo. Chàng quyết định ra đi để tiếp tục kiếm tìm đạo pháp tối hậu, điều sẽ giúp chàng chấm dứt mọi khổ đau và có thể truyền dạy lại cho những người khác.
Nghe danh Oudhaka là vị đạo sĩ giỏi nhất vùng, thái tử Tất Đạt Đa liền tìm đến. Tại đây, chàng đã học và luyện tập vô cùng hăng say với đạo sĩ Oudhaka cho đến khi lĩnh hội được hết mọi kiến thức từ người thày của mình. Vị đạo sĩ này hết sức hài lòng về trí tuệ và tài năng của thái tử Tất Đạt Đa và cũng yêu cầu chàng ở lại trường giúp ông lãnh đạo chúng đệ tử. Tuy nhiên, đó lại không phải là mong ước của thái tử.
Mặc dù những điều thái tử Tất Đạt Đa học được ở tu sĩ Oudhaka đã cao siêu hơn rất nhiều so với kiến thức học từ tu sĩ Ara, nhưng chàng vẫn không thấy thoả mãn. Chàng vẫn chưa thật sự hiểu bản chất của cuộc sống. Bởi vậy, một lần nữa chàng lại quyết định từ biệt trường học của tu sĩ Oudhaka để tự mình tìm kiếm chân lý của cuộc sống vốn là điều chàng vẫn đang tìm kiếm bấy lâu mà chưa lĩnh hội được.
Ở Ấn độ từ thời bấy giờ cho đến tận ngày nay vẫn còn có nhiều đạo sĩ bỏ nhà cửa và gia đình vì tin tưởng mãnh liệt rằng muốn được hạnh phúc khi lên cõi Trời thì không có cách nào khác hơn là ép xác khổ hạnh, không ăn. Họ cho rằng trong thế giới này, họ càng hành xác bao nhiêu thì càng được hưởng sự an lạc bấy nhiêu ở thế giới bên kia. Bởi vậy nên họ đã tích cực khổ luyện theo lối hành xác, thế nhưng phương pháp này đi ngược lại với giáo pháp của đức Phật. Đức Phật từng dạy rằng “Không nên luyện tập theo lối hành xác”.
Sau này thái tử Tất Đạt Đa mới nhận ra rằng cách luyện tập này không mang lại kết quả gì; nhưng ban đầu chàng nghĩ rằng nếu khổ luyện kết hợp nhiều lối hành xác khác nhau, chàng có thể sẽ khám phá ra chân lý mà chàng tìm kiếm lâu nay. Với nhận thức như vậy, thái tử Tất đạt Đa đã tìm đến một vùng nông thôn ở khu vực Aruvera. Đây là một vùng nông thôn rộng lớn, thanh bình với bạt ngàn cây cối, bao quanh là dòng sông nước chảy quanh năm. Ngay gần đó có một ngôi làng nhỏ nên chàng có thể đi khất thực hàng ngày. Khi đã chọn được nơi dừng chân, thái tử bắt đầu luyện tập hành xác theo nhiều cách khác nhau với niềm tin rằng chàng sẽ tìm ra “Sự thật của Dhamma”.
Bấy giờ, có rất nhiều đạo sĩ trong lòng vô cùng ngưỡng mộ thái tử. Trong số đó có năm vị tu sĩ thuộc loại xuất chúng (Pancavakkee) đã tình nguyện đến hầu hạ thái tử trong khi chàng đang tu trì. Đó là các đạo sĩ 1 - Kiều Trần Như (Godanya), 2 - Bạt Đề (Bhandya), 3 - Thực Lực (Vappa), 4 - Ma ha na ma (Mahanama), 5 - Át Bệ (Adsy). Năm đạo sĩ này hết sức tin tưởng rằng bằng cách khổ hạnh ép xác, thái tử sẽ tìm thấy đạo giải thoát mà chàng đang tìm kiếm. Đến lúc ấy, khi đã đạt đến Chính giác, nhất định họ sẽ là những người đầu tiên được chàng truyền giáo. Bởi vậy, họ tiếp tục ở lại hầu hạ chàng trong suốt thời gian chàng khổ tu hành xác.
Thái tử Tất Đạt Đa một lòng khổ luyện và cùng lúc áp dụng nhiều kiểu hành xác khác nhau, mỗi ngày chỉ ăn chút ít cho cho nên cơ thể gầy mòn hốc hác. Một ngày kia, khi đang tập luyện chàng bỗng ngất xỉu và trở nên mê man vì cơ thể đã suy nhược quá mức. Vừa may có một chú bé chăn cừu đi qua nhìn thấy thái tử đang nằm bất tỉnh. Chú bé là người trong làng nên biết chuyện thái tử đã khổ tu hành xác bằng cách nhịn ăn nhịn uống đã 49 ngày nay.
Chú bé liền quay lại chỗ bầy cừu rồi dắt theo một con cừu cái đến chỗ thái tử đang nằm. Chú vắt sữa ra bát rồi cho thái tử uống từng ngụm nhỏ đến khi chàng hồi tỉnh. Thái tử dần dần đã tỉnh táo trở lại. Chàng cố nghĩ xem chuyện gì đã xảy ra, tại sao chàng lại bất tỉnh, rồi bây giờ tỉnh lại. Thái tử Tất Đạt Đa tin rằng nếu không có bát sữa cừu thì chàng đã chết và sẽ không bao giờ còn cơ hội để tìm ra chân lý. Thái tử Tất Đạt Đa suýt nữa đã mất mạng để nhận ra rằng mặc dù hành xác là phương pháp đang được áp dụng rộng rãi thời bấy giờ nhưng rõ ràng không đem lại kết quả. Chàng tự nhủ “Hành xác khiến cơ thể người ta trở nên tàn tạ vậy thì không nên tiếp tục lối tu khổ hạnh ấy.”
Vì đã có công giúp thái tử Tất Đạt Đa thoát chết nên chú bé chăn cừu đã được thái tử cầu phúc và thấy rất hạnh phúc về điều đó. Chú sung sướng trở về với bầy cừu. Còn thái tử thì trở lại chỗ cũ, nơi chàng đã ngồi thiền, cho đến chiều tối. Lúc sau có một phường buôn đi qua. Thái tử nghe thấy tiếng hát của một phụ nữ, và còn nghe lỏm được lời một người khuyên bảo người kia “khi chơi đàn, dây đàn không được chùng quá hay căng quá. Chùng quá sẽ khiến âm thanh không được hay, còn căng quá thì dây dễ đứt. Tốt nhất là căng vừa phải, sẽ vừa tai người nghe hơn” . Khi nghe thấy lời khuyên này, thái tử thầm nghĩ “Quá căng thì dây đứt, quá chùng thì nghe sẽ không hay. Đàn chỉ nên căng dây vừa phải” .
Sau khi nghe được những lời nói đó, thái tử Tất Đạt Đa nhận ra rằng cho đến lúc này chàng đã quá căng dây cuộc đời chàng. Nếu còn tiếp tục hành xác, chàng có thể sẽ chết trước khi tìm ra chân lý. Đồng thời chàng cũng nhận thấy rằng lối tu hành này quả thật rất vô ích nên đã quyết định từ bỏ. Chàng sẽ thực hành theo lối thiền định mà trước đây chàng đã từng luyện tập. Vậy là mỗi sáng chàng lại cầm bát đi khất thực, được gì ăn nấy, cốt bảo toàn khí lực để tiếp tục công cuộc tìm nguồn gốc của chân lý (Sacca Dhanmma).
Từ bỏ lối khổ tu hành xác và trở lại ăn uống bình thường, thái tử đã hồi phục sức lực và trở lại vẻ tuấn tú trước kia. Ở chàng toát ra vẻ bình an, điềm đạm và đáng kính. Giờ đây thái tử đã hiểu thấu rằng lối tu khổ hạnh khắt khe chẳng khác nào nặn dây đàn từ đất sét, cái dây ấy làm sao phát ra âm thanh. Nói về năm vị đạo sĩ đồng tu, họ không thể nào hiểu được những suy nghĩ của thái tử. Họ nhất nhất cho rằng lối tu hành ép xác là cách duy nhất để chứng ngộ được đạo giải thoát. Khi thấy thái tử từ bỏ lối tu khắc khổ và đã bắt đầu ăn uống trở lại, họ cho rằng chàng ham thích cuộc sống sung sướng, bởi vậy họ đã rời bỏ thái tử trở về rừng Isi Pattana Mikhadhayavan. Do tầm hiểu biết hạn hẹp nên những người bình thường khó mà hiểu được những hành động suy nghĩ của thái tử.
Sau khi dâng lễ vật lên thái tử, lệnh bà Sousada cùng người hầu ra về còn thái tử ra tắm bên sông. Sau đó, thái tử trở lại chỗ ngồi rồi vắt cơm làm 49 vắt. Mỗi lúc thái tử ăn một vắt và chàng nhận thấy rằng cơm đề hồ chứa rất nhiều chất dinh dưỡng. Đây quả là một thức ăn quý giá, có thể giúp chàng duy trì sức khoẻ trong những ngày thiền tu sắp tới. Sau khi thọ thực xong , thái tử cầm bát vàng ra bờ sông. Tại đó, chàng khấn rằng “Nếu ta đắc được quả Vô thượng Chính đẳng Chính giác và trở thành Phật thì chiếc bát này sẽ trôi ngược dòng sông.”. Nói rồi chàng từ từ thả chiếc xuống dòng sông. Như có phép màu, chiếc bát trôi ngược dòng, được đến tám hắc tay thì bất ngờ chìm nghỉm xuống đáy sông.
Cũng tại đáy sông nơi đó, hiện vẫn còn bốn chiếc bát vàng khác của bốn vị Phật là: Phật Kukusandho, Phật Kona Khammano, Phật Kassapo, và Phật Khodom.
Xà vương Karanak, thường chỉ thức dậy khi ngài nghe thấy tiếng va chạm của bát vàng. Xà vương biết rằng khi chiếc bát vàng chìm xuống đáy sông và phát ra âm thanh, nó báo hiệu một vị Phật mới xuất hiện. Nó sẽ thức dậy, đảnh lễ trước đức Phật rồi lại ngủ tiếp. Câu chuyện này được giải thích như sau: Chiếc bát vàng biểu hiện cho Dhamma (Giáo pháp của nhà Phật) còn dòng sông thì biểu hiện cho loài người mà nhờ tiếp thu giáo pháp của đức Phật đã thoát khỏi vòng khổ đau (sinh, lão, bệnh, tử). Giáo pháp của đạo Phật giúp con người tìm thấy niềm hạnh phúc thật sự, đó là cõi Niết bàn. Riêng đối với Xà vương Karanak, nó cho rằng con người lúc nào cũng lắm phiền não (kilesa). Bởi vậy, ngay cả khi đã biết về sự giác ngộ của một vị Phật thì Xà vương cũng chỉ đảnh lễ rất nhanh rồi sau đó lại chìm vào giấc ngủ vì cho rằng sự giác ngộ đó rồi cũng chẳng dẫn đến đâu. Điều này chứng minh cho sự hạn hẹp trong suy nghĩ của số đông các loài trên thế gian này: mặc dù hiểu được nguồn đau khổ, nhưng lại rất ấu trĩ khi tin rằng Rupa (Sắc), Nama (danh), Rosa và Gandha chính là nguồn gốc của hạnh phúc thật sự và chính bởi vậy các loài tiếp tục phải chịu đau khổ.