Siddartha Gotama

Lịch sử ĐỨC PHẬT TỔ CỒ ĐÀM TẤT ĐẠT ĐA

Tác giả

LuongTa Chanhphy Manivong

ISBN 0 64634174 x

 



Tượng Sakayamuni Phrachanhdhavimutisuok
Đúc bằng đồng vàng, hiện là pho tượng bằng đồng lớn nhất ở Australia
Cao: 4,5m – Rộng: 3,5m – Độ dày: 2,5m – Nặng: 4,5 tấn
Ngày khởi công: 21/03/1998
Ngày chuyển đi từ Thái Lan: 21/03/1999
Ngày chuyển đến Australia : 04/04/1999
Thiết kế và tài trợ: LươngTa Chanhphy Manivong
“Tôi cầu chúc mọi chúng sinh trên thế gian này hãy cùng sống mạnh khỏe, sống lâu trong niềm hạnh phúc và yêu thương”.
LuongTa Chanhphy Manivong 20 /8/ 1999.




Tác giả của cuốn sách, LuongTa Chanhphy Manivong, là một tăng sĩ Phật giáo người Lào, sinh ngày 21 tháng 3 năm 1921. Ngài gia nhập Tăng đoàn năm lên 10 tuổi và được thọ Cụ túc giới vào ngày sinh nhật lần thứ 21. Khi còn trẻ, Ngài rất thích du hành khắp đất nước Lào để hành nội thiền (Kammathana) và để tế độ cho những chúng sinh muốn được nghe lời chỉ dạy của Ngài. Khi ấy, tại Lào, Ngài đã được ban tặng danh hiệu Đức đạo sư Chanhphy Manivong.

 

 

 

 

Bà La Môn Sodhiya
dâng tặng thái tử Tất Đạt Đa tám bó cỏ

Sau khi tắm mình dưới sông Ni liên thiền, thái tử Tất Đạt Đa trở lại khu rừng Vô ưu gần đó để tiếp tục tu luyện. Đến tối, chàng rời khu rừng Vô ưu đến bên cội cây Bồ đề. Chàng trải tám bó cỏ do vị Bà La Môn Sodhiva dâng tặng dưới gốc rồi ngồi xếp bằng trên cỏ, tiếp tục ngồi thiền với lòng quyết tâm mãnh liệt.

 

 

 

Toạ cỏ trở thành bảo toạ đắc đạo

Thái tử Tất Đạt Đa toạ trên cỏ, mặt hướng về phía Đông, quay lưng vào gốc cây Bồ Đề, và phát lời thề nguyện rằng trong bất kì hoàn cảnh nào, dù có thịt nát xương tan, và thậm chí là cái chết, ngài thề sẽ không đứng dậy ra khỏi bóng cây Bồ đề nếu chưa đạt đến cõi giới Chính Giác.

 

 

 

Những kí ức buồn vui, lo lắng và xáo trộn trong tâm trí
thái tử Tất Đạt Đa

Sau khi thề nguyện, thái tử Tất Đạt Đa tập trung tâm trí, đẩy lùi mọi trở ngại của bóng đêm, xua đi những niềm hạnh phúc mong manh, nhất thời mà chàng đã từng tận hưởng và rồi dứt tâm từ bỏ. Chàng tập trung tâm trí tìm kiếm nguyên nhân gây đau khổ, nhưng vì tuổi còn trẻ (lúc ấy chàng mới 35 tuổi), nên kí ức xưa cũ như niềm hạnh phúc sung sướng, sự đầy đủ khi còn ở trong cung điện với những màn biểu diễn, những trò tiêu khiển đã liên tục hiện về trong tâm trí thái tử. Chàng tự nhủ “Ta cần phải chế ngự được tất cả”

 

 

 

Ngự trên toạ cỏ , đức Phật đã đẩy lùi các thế lực đen tối

Vào ngày mười tư tháng Sáu năm Tuất, Ma vương đã phái ba đứa con gái xinh đẹp nhất của mình là Nang Raga (Tham ái), Nang Tanha ( Ái dục ), Nang Orady (Tật đố) đến cội cây Bồ đề hòng quyến rũ thái tử Tất Đạt Đa. Tuy nhiên, không kẻ nào có thể mê hoặc được thái tử. Do oai lực của Ba La Mật của nhà Phật, ba con ma nữ ngay lập tức trở nên già nua xấu xí. Vô cùng tức giận, Ma vương liền ra lệnh cho các thế lực của bóng tối bủa vây thái tử Tất Đạt Đa hòng cướp lại bảo toạ và xua đuổi thái tử. Nhưng vì thái tử Tất Đạt Đa đã tu tích công đức trong 500 kiếp sống trước đây nên Ma vương đã không thể đáng bại được đức Phật. Ba La Mật gồm có:

  1. Dhana Paramee – Bố thí Ba la mật
  2. Sila Paramee – Trì giới Ba la mật
  3. Nekkam Paramee – Bao dung Ba la mật
  4. Panya Paramee – Trí tuệ Ba la mật
  5. Viriya Paramee – Tinh tấn Ba la mật
  6. Kanti Paramee – Nhẫn nại Ba la mật
  7. Sacca Paramee – Chân thật Ba la mật
  8. Adhithana Paramee – Phát nguyện Ba la mật
  9. Metta Paramee – Tâm Từ Ba la mật
  10. Upekka Paramee – Tâm Xả Ba la mật

Đây chính là Ba la mật mà thái tử Tất Đạt Đa đã cố công tạo được trong các kiếp sống trước. Mỗi khi thái tử làm được một việc tốt, chàng lại nhỏ một giọt nước xuống dưới đất, tất cả những nơi được nhỏ nước này đều được Đất mẹ (nữ thần thổ địa) công nhận là “Kusala Sat Kiriya.”

Thái tử Tất Đạt Đa phải đối đầu với các thế lực bóng tối, những kẻ rắp tâm muốn lấy đi tính mạng của chàng, nhưng nhờ có oai lực của Ba la mật và những giọt nước mà chàng đã nhỏ xuống đất nên Đất mẹ đã dùng phép thần tập trung mọi nguồn nước trên thế gian dâng lên xua tan bóng đêm hắc ám. Ma vương kinh sợ chắp tay xin tha mạng. Đồng thời hắn xin được giao nộp thân mình cho thái tử. Cuối cùng thái tử đã chế ngự được mọi trở ngại, đạt tới ánh sáng trí tuệ và Brommacan, đắc quả A la hán và trở thành đức Phật, Đấng Giác Ngộ toàn năng.

 

 

 

Lần thứ hai Thái tử Tất Đạt Đa không
những phải chế ngự những thế lực trong tâm tưởng
mà còn phải chiến đấu với những thế lực ma quỷ từ bên ngoài

Khoảng ba, bốn tiếng trước khi thái tử Tất Đạt Đa trở thành Đấng Giác ngộ, âm thanh inh ỏi từ trên trời, dưới đất và của lũ yêu ma đồng loạt nổi lên theo lệnh của tên Ma vương xấu xa. Chúng ùa đến từ mọi ngõ ngách hòng cuốn lấy bảo tọa mang về cho chủ nhân của chúng và cướp đi tính mạng của thái tử Tất Đạt Đa. Tên Ma vương tuyên bố rằng bảo tọa đó là của hắn nhưng thái tử đã từ tốn đáp lại rằng bảo tọa phải thuộc về chàng. Vì những công đức mà thái tử Tất Đạt Đa đã tu tích trong năm trăm kiếp sống trước nên hiển nhiên chàng phải phải được ưu tiên sở hữu bảo tọa này. Ma vương tỏ ý coi khinh thái tử và bắt chàng phải chỉ ra các chứng cứ. Thái tử liền chỉ ra những công đức mà chàng đã làm được cùng với phần nước mà chàng đã cúng dường cho Đất mẹ. Bỗng nhiên, Đất mẹ xuất hiện dưới hình hài của một nữ thần và cho Ma vương thấy suối nước trên mái tóc bà. Dòng nước tiếp tục tràn ra, cuốn trôi hết lũ binh ma tướng quỷ của Ma vương. Ma vương vội bay thẳng lên trời, nhưng dòng nước vẫn không ngừng bám theo sau cho đến khi hắn chịu đầu hàng và xin tha mạng. Sau sự việc đó, thái tử Tất Đạt Đa đã đắc đạo và trở thành Phật. Về phần Ma vương, hắn không chịu giữ lời hứa, tiếp tục âm mưu chống lại thái tử Tất Đạt Đa bằng cách phái ba đứa con gái đẹp nhất của mình xuống hòng mê hoặc thái tử vào những dục lạc. Nhưng thái tử không hề bị dao động trước bất kì sự cám dỗ nào, cho dù đó là những ma nữ xinh đẹp.

 

 

 

Tâm trí yên tịnh – khởi đầu của Samadhi (Định)

Trong cõi tam thiền, thái tử đã nhớ lại, thấy rõ các kiếp sống trước đây của ngài, đó gọi là “Bupenivasatijan”. Chàng chiêm nghiệm về cuộc sống của các loài vật và cách thức luân hồi tùy vào nghiệp nặng hay nhẹ. Bằng huệ nhãn, thái tử hiểu được tại sao có người được sống trong sung túc trong khi lại có kẻ phải sống trong khổ đau triền miên. Đó là vì cái nghiệp từ kiếp trước. Những người sống rộng lượng, tốt bụng trong kiếp trước thì kiếp này được hưởng sung sướng, còn những kẻ kiếp trước sống keo kiệt bủn xỉn thì sẽ phải chịu đói nghèo trong kiếp này. Mọi việc đối với thái tử giờ đều trở nên thật rõ ràng khi tâm trí chàng đã đạt ở “Tầng thiền Samadhi và Trí tuệ”.

 

 

 

Thái tử Tất Đạt Đa đắc đạo và trở thành đức Phật giác ngộ

Như vậy là phải mất sáu năm kể từ khi thái tử rời bỏ cung điện cho đến ngày chàng đạt thành Chính Giác. Đó là vào ngày rằm tháng Sáu năm Tuất. Thái tử đã trở thành Đấng Đại giác, đức Phật tối thượng và đạt được trí tuệ phi thường. Thái tử đã có được những khả năng:

  1. Bupesanivasnusatijan - Khả năng hồi tưởng lại tiền kiếp
  2. Jutuppatajan – “Huệ nhãn” tiêu diệt vô minh (Moha) và biết được điều gì là Pháp đế và điều gì không phải là Pháp đế.
  3. Asavakkacajan – Khám phá ra Tứ diệu đế có thể hoàn toàn tiêu diệt được mọi phiền não và khai triển trí tuệ hoàn hảo của cuộc sống và Brommajana, đắc quả A la hán (không còn sự tái sinh)
  4. Đạt được Chính giác và trở thành đức Phật, thông hiểu về bốn Pháp đế:

    Dukka Sacca - Sự đau khổ về thể xác và tâm hồn

    Samoutthaiya - Nguồn gốc của đau khổ

    Nirodha Sacca - Con đường diệt khổ

    Mugga Sacca (8 Mugga) - Các cách luyện tập để chế ngự đau khổ (Bát chính đạo)

Những điều mà thái tử Tất Đạt Đa khám khá ra được gọi là Tứ diệu đế. Điều này giải thích tại sao ngài lại được tôn là đức Phật, người đã tự mình đạt đến Đại Giác ngộ.

Áp dụng phương pháp thiền định, sau khi đạt được đến tứ thiền, vào canh một của đêm hôm đó, thái tử Tất Đạt Đa tiếp tục luyện tập và đạt được tam thiền “Bupenisanusati” - khả năng hồi tưởng lại tiền kiếp của một người. Vào canh hai, chàng đạt đến tầng thiền Jutuppata – “Huệ nhãn” – khả năng nhìn thấu sự ẩn hiện của con người qua sinh, tử và luân hồi, và đến canh tư đêm hôm đó, chàng đã đạt đến nhất thiền Asavakkhaya - pháp giáo cuối cùng của Tứ diệu đế (gồm bốn chân lý là Dukka, Samoutthaiya, Nirodha và Mugga). Pháp giáo này giúp giải thoát mọi khổ đau khỏi tâm trí.

Khi tâm trí đã được giải thoát khỏi mọi khổ đau, đức Phật đã nói về trạng thái tinh thần của mình như sau “Khi ta đã thông hiểu Tứ diệu đế, tâm trí được giải thoát khỏi ái dục (Kamasava), khỏi ý muốn tái sinh (Pavasava) và vô minh (Avijjasava), các bước thiền cho thấy rằng ta đã thoát khỏi mọi khổ đau, hoàn thành con đường Prommacan của cuộc sống, hoàn thành sứ mạng của ta” . Trên thế gian này chưa từng có điều gì phi thường giống như những việc mà thái tử Tất Đạt Đa đã đạt được. Khi tu thành Chính giác chàng mới 35 tuổi và để đạt được mục tiêu này, chàng đã phải mất sáu năm ròng khổ luyện.

 

 

 

Đức Phật chứng nghiệm Hạnh phúc giải thoát (Vimuttusouk)

Khi đã chứng ngộ đạo giải thoát, đức Phật mới được tận hưởng niềm hạnh phúc tối thượng trong bảy tuần liền dưới gốc cây Bồ đề và những vùng quanh đó. Niềm hạnh phúc này chỉ đức Phật mới hiểu được.

Tuần thứ nhất , trong suốt thời gian bảy ngày, đức Phật ngồi dưới gốc cây Bồ đề để chứng nghiệm Hạnh phúc giải thoát (Vimuttisouk) và suy niệm về pháp Thập nhị Nhân duyên (Patijjasamuppadha) mà Ngài đã chứng ngộ được;

Tuần thứ hai , đức Phật rời cây Bồ đề, đi về hướng Đông Bắc, tại đó đứng ngắm nhìn cây Bồ đề trong bảy ngày không chớp mắt. Nơi đây sau này gọi là “Animissa Jedi”;

Tuần thứ ba, đức Phật ngồi thiền ở vị trí giữa cây bồ đề và “Animissa Jedi” trong bảy ngày nữa. Nơi đây sau này gọi là “Rattana Jongkom Jedi”;

Tuần thứ tư , đức Phật theo hướng Đông Nam trở về gốc cây Bồ đề, tại đó, Ngài ngồi xuống và suy ngẫm về Thắng pháp pidok trong bảy ngày. Nơi đây sau này gọi là “Rattanakorn Jedi”;

Tuần thứ năm, đức Phật rời cây Bồ đề, đi về hướng Đông, đến ngồi bảy ngày dưới gốc cây Vô ưu. Đây là nơi trú ngụ tạm thời của một người chăn cừu tên là Assapal Nikoth. Một hôm, một vị Bà la môn đã tỏ ra rất ngạo mạn khi hỏi đức Phật rằng “Người có đức tính như thế nào thì trở thành Bà la môn?” , đức Phật đã đáp lại rằng “Bà la môn nên là người không ích kỉ, không sợ đối mặt với việc làm sai trái, tội lỗi, và phải biết lẽ phải trên đời” . Vị Bà la môn này không nói lời nào, bỏ đi thẳng. Vừa đi, vừa tự nhủ “Tên đạo sĩ này có thể đọc được ý nghĩ của ta.”

Tuần thứ sáu , đức Phật đi về hướng Tây Nam cây Bồ đề. Nơi đó, ngài ngồi trong cái hang của cây Vô ưu trong bảy ngày, ngoài trời mưa dầm dề. Lúc đó, có một con mãng xà vương tên là Mujalinh cứ uốn mình quanh đức Phật đến bảy lần và lấy đầu mình làm ô che mưa cho đức Phật. Trong cái tĩnh lặng của ngày hôm đó, đức Phật nói “Không làm phiền người khác là đã mang lại hạnh phúc cho muôn loài trên thế gian rồi”;

Tuần thứ bảy , đức Phật rời đến một cây khác, còn gọi là Rasayatana, nằm dưới cây Bồ đề, và ở đó trong bảy ngày cuối cùng. Trong suốt thời gian đó, có hai anh em lái buôn người Miến Điện, tên là Tappoussa và Panlika đi ngang qua và trông thấy đức Phật. Họ liền mời ngài dùng lương khô (Sattu Rice) và tự xưng là hai đệ tử đầu tiên chứng được Rattana. Họ đều đã quy y Phật và quy y Pháp.

Sau bảy tuần chứng nghiệm Vimuttisouk, đức Phật đã rời đến một cội cây Vô ưu khác tên là Asapalnikoth. Tọa nơi đây, ngài đã suy ngẫm về Pháp đế do mình khám phá ra và nhận thấy rằng người thường khó mà hiểu được loại giáo pháp vi diệu nhường này. Thoạt đầu, đức Phật cho rằng nội dung của Tứ diệu đế quá phức tạp đối với người thường nên đã định sống ẩn dật, không truyền bá Tứ diệu đế cho kẻ khác.

Quyết định này của đức Phật đã gây bất bình trong giới Chư Thiên, họ nhất trí kéo nhau đến thỉnh cầu thần Saham Bhrommabodee. Chấp nhận lời thỉnh cầu, thần Saham Bhrommabodee đã quyết định xuống hạ giới, yêu cầu đức Phật hãy truyền bá cho thế gian biết về đạo pháp mà ngài đã chứng ngộ. Thần Saham Bhrommabodee đã hết lời ca tụng đức Phật, tôn ngài là đấng vĩ đại nhất, có thể nhìn thấu mọi việc. Khi ngài thấy mọi sinh linh chìm trong những tranh chấp, khổ đau, ngài cảm thấy vô cùng đau xót và xin đức Phật hãy thay đổi ý định. Điều này giải thích tại sao khi nào chúng ta cầu xin các tăng chúng giảng giải giáo pháp, chúng ta đều nói ‘Bhromma Ca Loka Dhipati Saham' để nhắc nhở chúng ta hãy nhớ tới những điều mà thần Saham Bhrommabodee đã cầu xin đức Phật.

 

 

 

Thần Saham Bhrommabodee
cầu xin đức Phật truyền bá đạo pháp

Nghe lời thỉnh cầu của thần Saham Bhrommabodee, đức Phật liền suy ngẫm về Indrya của chúng sinh mọi cõi và so sánh họ với bốn loài sen mọc trong nước bùn, bao gồm:

  1. Loại thứ nhất, sinh ra dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, đợi ánh nắng chiếu đến thì nở rộ.
  2. Loại thứ hai, sinh ra dưới nước không vươn lên khỏi mặt nước, phải đợi lâu hơn để được ánh nắng chiếu tới thì mới nở rộ.
  3. Loại thứ ba, sinh ra dưới nước, thoát được bùn nhơ nhưng không vươn tới được mặt nước nên chưa nhận được ánh nắng thì đã héo tàn.
  4. Loại thứ tư, sinh ra dưới nước, sống trong bùn nhơ, không bao giờ vươn tới mặt nước, phải chịu để những loài sinh vật dưới nước như cá, tôm, rùa…đớp rỉa.

 

Con người cũng giống như thế, gồm có bốn hạng người:

  1. Nhóm người Oukkhatitanyou : thông minh, ít phiền não, có thể tiếp thu pháp giáo rất nhanh. Chỉ cần nghe pháp giáo là họ có thể hiểu được ngay.
  2. Nhóm người Vipatitanyou : thông minh trung bình, đau khổ vừa phải, có thể tiếp thu được pháp giáo nếu được giảng giải thêm.
  3. Nhóm người Neya : kém thông minh, vướng nhiều đau khổ, họ có thể hiểu được pháp giáo, nhưng muốn lĩnh hội được cần phải giảng đi giảng lại nhiều lần.
  4. Nhóm người Padhaparana : đần độn ngu si, không thể hiểu được pháp giáo. Nhóm này không thể đạt tới ánh sáng của Đạo pháp, phải sống trong cô đơn cùng với nghiệp chướng của chính mình.

Đức Phật chỉ có thể chỉ dạy đạo pháp cho ba nhóm đầu. Ví dụ, nếu có 1.000.000, chỉ có 750.000 người được giảng đạo, 250.000 người còn lại thuộc nhóm Padhaparana đành để lại.

Khi đã cân nhắc kĩ như thế, đức Phật quyết định sẽ truyền bá đạo pháp mà ngài đã chứng ngộ. Ngài nghĩ đến nhóm người thứ nhất, những người có thể hiểu ngay được đạo pháp. Đó là hai vị thầy cũ của ngài, đạo sĩ Ara và đạo sĩ Oudhaka, nhưng cả hai đều đã qua đời. Sau đó, ngài lại nghĩ tới Pancavakkhy, năm vị đạo sĩ đồng tu hành xác. Nghĩ vậy, ngài lập tức lên đường đến rừng Issipattana Mikkhadhayavan, nơi ngài đã đến vào ngày trăng tròn mười tư của tháng Tám.

 

 

 

Tế độ các vị Pancavakkhy –
năm môn đệ đầu tiên tại rừng Issipattana Mikkhadhayavan

Khi đức Phật mới đến bìa rừng Issipattana Mikkhadhayavan (nay là rừng Sarnath), năm đạo sĩ đã nhìn thấy ngài. Một vị nói: “Nhìn ai đang tiến tới phía chúng ta kìa, một kẻ tu hành không chịu được khổ luyện, trở lại với cuộc sống sung túc đầy đủ. Chúng ta không nên đón chào hắn, không nên kính trọng hắn và không được nhận lấy chiếc bát cùng với y vàng của hắn. Nhưng ta cũng nên chuẩn bị một chỗ ngồi cho hắn. Muốn ngồi hay đứng, mặc hắn, không cần phải mời. Một kẻ tu hành với nghị lực yếu đuối, không đủ quyết tâm như hắn không đáng để chúng ta kính trọng”.

 

 

 

Bài thuyết pháp đầu tiên dành cho các vị Pancavakkhy

Lúc đầu, năm đạo sĩ tỏ rõ vẻ bất kính đối với đức Phật, nhưng sau nghe lời khuyên răn, họ bắt đầu chú ý đến lời thuyết pháp của đức Phật về Pháp Tứ diệu đế. Tứ diệu đế là toàn bộ giáo pháp mà đức Phật đã chứng ngộ được vào một buổi sáng sớm ngày rằm tháng Tám năm Tuất:

  1. Attakilamatdhanu Yoga - Những tác dụng tiêu cực của lối tu “hành xác”
  2. Karma Sukkhanli Kanu Yoga - Đam mê thú vui nhục dục, không nhận thấy tác hại nên không từ bỏ được nó.

Những ai muốn thoát khỏi mọi khổ đau để lên được cõi Niết bàn thì phải từ bỏ hai điều cơ bản này. Sau khi kết thúc bài thuyết pháp đầu tiên, đức Phật nhận thấy ngay rằng Kiều Trần Như đã được giải thoát, ngài liền nói: “Ayaya Si Vatapo Godhanyo” , nghĩa là “Kiều Trần Như đã chứng ngộ đạo giải thoát”. Đức Phật rất hài lòng khi có người hiểu được giáo pháp của ngài trong khoảng thời gian ngắn đến như vậy. Kiều Trần Như còn được đức Phật ban cho tên đệm là Uiya, và được đức Phật trực tiếp truyền thụ giới.

Bốn ngày sau, vào ngày mùng năm, một ngày trăng khuyết tháng Tám, đức Phật hội năm vị lại và thuyết pháp bài kinh Anantakakkhana (Vô ngã tướng kinh), nghe xong pháp này, tất cả các vị đều chứng đạo giải thoát và đắc quả A la hán. Vậy là trên thế gian lúc đó có tất cả là năm vị A la hán.

Bài thuyết pháp đầu tiên (Pháp Tứ diệu đế – 4 chân lý vi diệu) của đức Phật bao gồm các nội dung:

  1. Khổ đế (Dukka Sacca)
  2. Tập đế (Smouttha Sacca)
  3. Diệt đế (Nirodha Sacca)
  4. Đạo đế (Mugga Sacca)

Tứ diệu đế - chân lý cao siêu về đạo diệt khổ - chính là giáo pháp do thái tử Tất Đạt Đa khám phá ra và sau đó đã trở thành đức Phật. Đức Phật là để chỉ một người tự mình tu luyện và đã đắc đạo, thế gian không có ai làm thầy.

Nhờ phương pháp thiền định, tâm hồn thanh cao trong sáng, thái tử Tất Đạt Đa đã khám phá ra được niềm hạnh phúc sâu kín của vạn vật, giúp ngài có thể hiểu được bản chất thực sự của Sankhara (Hành), Rupa Nama (Danh sắc) và biết cách giải thoát khỏi chúng. Rupa Nama mà đức Phật đã khám phá ra được thể hiện qua bốn chân lý vi diệu như sau:

Khổ đế (Dukkha Sacca): Đau khổ là do suy nghĩ. Suy nghĩ lại bị tác động bởi các yếu tố khách quan khó kiểm soát, nhất thời, hay thay đổi. Khi các yếu tố này xảy ra, nó khiến chúng ta có suy nghĩ sai lầm rằng “nó thuộc về tôi, về anh, về họ”, kết quả là họ phải chịu 8 cái khổ sau:

  1. Soka – Tâm trạng ưu sầu
  2. Paridheva – Tâm trạng thất vọng
  3. Dukkha – Tâm trạng đau đớn
  4. Dhomanassa – Tâm trạng phiền muộn
  5. Uppayasa – Tâm trạng nóng nảy xốn xang
  6. Sampayoga – Tâm trạng khi phải chia lìa
  7. Vipayoga – Tâm trạng lo lắng
  8. Alapha – Tâm trạng bối rối khó chịu

Tám điều này đều là Dukkha (Khổ), nó hay thay đổi, không bao giờ kết thúc, lúc nào cũng song hành cùng con người.

Tập đế (Samoutdhaya Sacca) – Dukkha là khổ

Tâm trí ta không biết được nguồn gốc dẫn đến đau khổ - là Lobha (Tham lam), Dhosa (giận dữ) - bởi vì con người không đạt được cái mà mình mong muốn

Moha Dreaming nói về điều con người mong muốn có được do quyền năng của Kilesa (phiền não) - Sự nhạy cảm của cảm giác Hài lòng, Vị giác, Thị giác, Thính giác và Xúc giác

Diệt đế (Nirodha Sacca): con người có lắm phiền não, nếu có thể hạn chế bớt những nhu cầu, đòi hỏi, mong muốn thì có thể diệt được tham, sân, si để mọi khổ đau có thể được gỡ bỏ.

Đạo đế (Mugga Sacca) - con đường diệt khổ, theo giáo pháp của đức Phật viết bằng tiếng Pali là “Atdhang Khikamug”, bao gồm tám nhân tố sau đây:

  1. Samma Dhitthi - Chính kiến, gồm bốn yếu tố:

    1.1 Dukkha - Hiểu về khổ

    1.2 Samoutdha - Hiểu về nguyên nhân của khổ

    1.3 Rodha - Hiểu về sự diệt khổ

    1.4 Mugga - Hiểu về con đường diệt khổ

  2. Samma Sangkappa - Chính tư duy, gồm ba yếu tố:

    2.1 Từ bỏ ý nghĩ trả thù

    2.2 Từ bỏ ý nghĩ gây tổn thương cho người khác

    2.3 Từ bỏ ý nghĩ bắt nạt, quấy rầy người khác

  3. Samma Vaca - Chính ngữ, gồm bốn yếu tố:

    3.1 Không nói sai, nói dối

    3.2 Không nói lời lẽ tầm phào

    3.3 Không nói lời thô bạo, ác khẩu

    3.4 Không nói lời xằng bậy, vô ích

  4. Samma Kammanta - Chính nghiệp, gồm ba yếu tố:

    4.1 Không sát sinh, không giết người

    4.2 Không trộm cắp hay lấy đi những vật thuộc sở hữu của người khác

    4.3 Không được có hành động tà dâm, đi ngược với lời giáo huấn thứ ba của đức Phật

  5. Samma Ajiva - Chính mệnh, gồm ba yếu tố:

    5.1 Không làm những nghề bất lương như buôn bán vũ khí, rượu, và thuốc lậu, buôn bán nô lệ hay các nghề mại dâm

    5.2 Làm những nghề có ích cho bản thân và những người khác

    5.3 Làm những nghề hợp pháp, có đạo đức đúng như đức Phật đã chỉ dạy

  6. Samma Vayama - Chính tinh tiến, gồm bốn yếu tố:

    6.1 Cố gắng tránh không phát sinh thêm nhiều tội lỗi

    6.2 Cố gắng không lặp lại tội lỗi

    6.3 Cố gắng duy trì các việc thiện đang làm

    6.4 Cố gắng làm thêm nhiều việc thiện

  7. Samma Sati - Chính niệm, gồm bốn yếu tố:

    7.1 Có ý thức suy ngẫm về “Sankhara - thân thể”

    7.2 Có ý thức suy ngẫm về “Vedhana - cảm thọ”

    7.3 Có ý thức suy ngẫm về “Cita - tâm thức”

    7.4 Có ý thức suy ngẫm về pháp giáo và tiếp cận được với chân lý

  8. Samma Samadhi - Chính định và không bị dao động trước bất kỳ ảo tưởng nào, gồm bốn yếu tố:

    8.1 Tập trung tư tưởng vào “Pathomma Jana” (Nhất thiền)

    8.2 Tập trung tư tưởng vào “Dhutiya Jana” (Nhị thiền)

    8.3 Tập trung tư tưởng vào “Tatiya Jana” (Tam thiền)

    8.4 Tập trung tư tưởng vào “Catutdha Jana” (Tứ thiền)

Bát Chính đạo theo tiếng Pali là “Matsima Patipadha”, nghĩa là tu luyện ở mức vừa phải, không khắt khe quá mà cũng không nhẹ nhàng quá, và được xếp vào “Sila Samadhi” như sau:

  1. Giới - Sila

    1.1  Sila = Samma Vaca (chính ngữ)

    1.2  Sila = Samma Kammanta (chính nghiệp)

    1.3  Sila = Samma Ajiva (chính mệnh)

  2. Định - Samadhi

    2.1  Samadhi = Samma Vayama (chính tinh tiến)

    2.2  Samadhi = Samma Sati (chính niệm)

    2.3  Samadhi = Samma Sati (chính định)

  3. Tuệ - Wisdom

    3.1 Wisdom = Samma Dhitthi (chính kiến)

    3.2 Wisdom = Samma Sangkappa (chính tư duy)

 

 

Hạ thứ nhất của Đức Phật

Sau khi thuyết pháp cho năm vị đạo sĩ Pancavakkhy và cả năm vị đều được giác ngộ trở thành năm vị A la hán đầu tiên trên thế gian, đức Phật cùng năm vị này đã ngự đi thuyết pháp lần đầu tiên tại khu rừng Issipata Namikkhadhayavan. Trong khi đang thuyết pháp trong rừng, Yasa cùng bốn người bạn tình cờ đi qua và trông thấy đức Phật. Được đức Phật thuyết pháp với giáo pháp “Ehi Bhikkhu Uppa Sampadha”, cả năm người cùng chứng được đạo giải thoát và đều đắc quả A la hán. Về phần gia đình, vợ con của Yasa và những người bạn, sau khi được thuyết pháp, tất cả đều qui y đức Phật, trở thành các nam tín đồ (Upasok) và nữ tín đồ (Upasika) tu tại gia của nhà Phật (Ưu bà tái và ưu bà di).

Lúc này trên thế gian đã có mười vị A la hán và ba loại môn đệ xuất gia là Tỳ khưu, Ưu bà tái, và Ưu bà di. Cũng trong đợt thuyết giáo đó, có thêm năm mươi người nữa sống ở khu vực lân cận, hay tin đức Yasa đã qui y Phật, đã rủ nhau vào rừng, xin được xuất gia. Sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, cả năm mươi người này đều trở thành A la hán. Như vậy là sau đợt thuyết pháp đầu tiên của đức Phật đã có tất cả là sáu mươi vị A la hán.

 

 

 

 

Các môn đệ của đức Phật
“Sự tuyên bố Tôn giáo Brommajana”

Sau khi kết thúc đợt thuyết pháp đầu tiên kéo dài ròng rã ba tháng, đức Phật đã hội các môn đệ lại và quyết định phái họ đi khắp nơi để truyền bá Giáo pháp. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ khưu, giờ đây các ngươi đã được giải thoát khỏi mọi đau khổ trên thế gian và xuất thế gian, vậy các ngươi hãy đi đi, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng nhân từ đối với thế gian, vì hạnh phúc của các vị Chư Thiên và loài người. Các người hãy đi nhưng đừng đi hai người một hướng. Các ngươi hãy truyền bá đạo pháp thật cặn kẽ cả phần đầu, phần giữa cũng như phần cuối, hãy tuyên bố Brommajana (cuộc sống tôn giáo cao quý) thật rõ ràng, hoàn chỉnh cả trong ý tứ và lời văn. Thế gian này, biết bao người vẫn còn đau khổ, và sẽ mãi đau khổ nếu không được nghe giảng về đạo pháp. Nhiều người họ có thể hiểu được Phật pháp. Còn ta sẽ đến Medhi Dhammaporn Prayul Dhamoumacitto ở Aruvere để giảng đạo”.

 

 

 

Như vậy, qua lời dạy đầu tiên của đức Phật, ta thấy ý định của Ngài rất rõ ràng: cử các môn đệ đi khắp nơi để truyền bá Giáo pháp và thực hiện ba nhiệm vụ quan trọng, theo tiếng Pali là “Caladhabikkha Vecaurikkang”.

Phahousane Soukkhaya Lo Kanoukampaya nghĩa là Phahoudhitaya mang lợi ích đến cho số đông loài người, và trong vai trò là môn đệ nhà Phật, họ có nhiệm vụ truyền đạo và mở rộng giáo hội. Chính vì lẽ đó, trước khi học cách truyền đạo, họ phải tự luyện mình thông thạo cả Dhamma Desana, Dhamma Sakassa và Uppabhe Kassinnaka, phải biết mục đích, thời gian và nơi truyền đạo. Ngoài ra, cũng phải luôn nhắc mình nhớ đạo pháp đầu tiên rất tinh vi và phức tạp của đức Phật. Đức Phật nhận ra rằng Đạo pháp của ngài rất khó hiểu vì con người vướng vào quá nhiều đau khổ, bởi vậy, ngài luôn luôn nhấn mạnh việc truyền bá đạo pháp phải thực hiện ở nơi có thể mang lại lợi ích cho số đông.

Khi một tỳ khưu muốn truyền đạo thì cho dù ở đâu, đạo pháp đó cũng phải mang lại lợi ích cho dân chúng nơi đó. Ví dụ đối với những người nghèo và đói khát liệu có thể giúp đưa họ lên cõi Niết bàn không? Lúc này lại phải nghĩ đến những lợi ích của Chân đế (Paramattha Dhamma) và phải chấp nhận một thực tế là lợi ích phải giành cho số đông. Một ví dụ khác là trường hợp con bò chỉ có hai sừng, cũng có thể liên tưởng đến việc số người có thể nhập cõi Niết bàn (chỉ là hai người). Ngược lại, số đông không lên được cõi Niết bàn thì nhiều vô kể, nhiều như số lông trên mình con bò đó. Bởi vậy, ta sẽ phải tự hỏi rằng: “Liệu có phải rằng số đông loài người sẽ không được giải thoát? Hay là họ bị bỏ mặc?” Trong trường hợp đó ta cần suy ngẫm về cách mà đức Phật đã cân nhắc để quyết định truyền bá giáo pháp, bắt đầu từ Buphik Khadha - Sakka Khadha - Kamadhinok - Ariya Sacca Dhamma (các giáo pháp của đức Phật được truyền dạy tuần tự từ trình độ thấp lên trình độ cao, đức Phật luôn răn dạy những lợi ích của việc làm từ thiện và sự tôn trọng giáo pháp sẽ giúp con người khi chết đi được hưởng niềm hạnh phúc ở cõi trời, đức Phật cũng răn dạy về những ảnh hưởng xấu của thói nhục dục và sau đó dạy về Tứ diệu đế.)

Abupphik Khadha là "Giới - Bố thí - Bhavana - Lời giáo huấn, Cúng dường và Thiền định" bao gồm các giảng giải về "Sakkha Khadha" là về những lợi ích của việc làm từ thiện và sự tôn trọng những lời giáo huấn của đức Phật sẽ giúp con người khi chết đi được hưởng niềm hạnh phúc ở cõi trời và Kamadhinok là khi đã hiểu được những ảnh hưởng xấu của thú nhục dục con người sẽ bỏ Sắc để bắt đầu tu luyện.

 

Đường tới Niết bàn - Luận giải Pháp Tứ diệu đế

Khi đức Phật giảng đạo, người luôn nhấn mạnh đến lợi ích đối với số đông, còn chúng ta lại quên mất điều này. Bởi vậy, việc truyền bá giáo lý của đức Phật không được mỹ mãn như mong đợi. Dân số của Lào là hơn ba triệu người, trong đó, số dân theo Đạo Phật chiếm 95%. Tuy nhiên, đất nước này hiện vẫn đang trong tình trạng kém phát triển. Nguyên do vì đâu? Tại sao giáo pháp của đức Phật vi diệu đến thế mà người dân Lào vẫn phải chịu cảnh tụt hậu?

Nguyên nhân của nghèo đói là gì? Chẳng hạn tại các nước Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanma và Sri Lanka, người dân luôn tự nhận là theo phái Theravana (Tiểu Thừa hay Nam Tông). Tuy nhiên, những nước này vẫn còn nghèo đói, nguyên nhân là do họ đã phạm sai lầm trong cách truyền bá đạo pháp. Hơn nữa, từ sau khi đức Phật nhập cõi Niết bàn, Đạo Phật ở những nơi này đã được phát triển theo một cách khác hẳn. Tăng chúng sống một cuộc sống rất đầy đủ, trong khi trước đây, dưới thời đức Phật, điều này là không được phép. Thời ấy, tăng chúng phải ngủ trong rừng hoặc dưới gốc cây. Còn ngày nay, Tăng chúng có cuộc sống khá giả, chỉ phải làm mỗi việc là tụng kinh Mangala và tổ chức các nghi lễ truyền thống. Còn những việc cúng tế khác, họ chỉ làm khi có yêu cầu. Tăng chúng chủ trì các lễ cầu siêu, làm lễ nhập trạch hay lễ cầu phúc cho việc kinh doanh. Ai muốn mời các thầy làm lễ thì phải chuẩn bị tất cả, các thầy chỉ việc cúng tế. Điều này khác hẳn với trước kia, khi đức Phật còn ngự trên thế gian. Tăng chúng phải tự xây lấy đền chùa với sự hỗ trợ của Phật tử về khoản vật liệu và tiền bạc. Thời ấy, tăng chúng thông tuệ về nhiều lĩnh vực chứ không chỉ truyền bá đạo pháp. Tăng chúng không những giảng đạo mà còn thật sự hành đạo cùng với Phật tử. Họ góp phần không nhỏ vào việc chấn hưng đất nước. Còn thời nay, tăng chúng không cần làm gì cả. Họ đơn thuần chỉ là “những người chủ trì các nghi lễ truyền thống” và vì vậy, không thể giúp gì cho việc phát triển cộng đồng. Thậm chí ở một vài nơi, nhiệm vụ của các thầy chỉ là trông nom đền chùa và ngồi đợi các bữa ăn.

Có một thực tế là các tăng già thời nay chỉ học đạo về mặt lý thuyết chứ không có hành đạo. Như thế thì chẳng có ích gì cả. Thông thường, khi đã học đạo, chúng ta phải hành đạo để có thể mang lại lợi ích cho xã hội. Nếu tăng chúng có thể nêu gương tốt thì họ mới có được niềm tin từ mọi người. Tăng chúng cần phải hướng cho các môn đệ tránh xa những trò cám dỗ như cá cược, đỏ đen,… Trong việc giảng dạy đạo pháp, tăng chúng cần xem xét những lợi ích có thể mang lại cho cộng đồng cũng như trình độ hiểu biết và thói quen sống của cộng đồng người dân theo đạo vì mỗi nơi mỗi khác.

Lợi ích của việc hành đạo là gì? Khi ấy, tăng chúng nên bàn về Pháp Dhitthadham. Không nên chỉ đề cập đến những lợi ích của pháp Dhitthadham đã được nghiên cứu trong bốn lĩnh vực “Udha Sampadha, Alakkha Sampadha hay Kalayanimitta và Thassama Jivitta” mà cũng nên giới thiệu thêm cả những pháp khác để khi thực hành, con người có thể đạt được chân hạnh phúc. Tăng chúng cần phải biết được trình độ, khả năng thực tế của một người để giới thiệu những đạo pháp ở mức độ tương ứng, như vậy đạo pháp mới mang đến những lợi ích đầy đủ. Tăng già cần chỉ ra đâu là cám dỗ bởi chính những cám dỗ là nguyên nhân và nguồn gốc của mọi sự tan vỡ. Nếu không dẹp bỏ được những cám dỗ này thì sẽ không thể phát đạt được.

 

 

 

Đức Phật tế độ cho ba anh em phái Satil

Sau khi đức Phật phái các đệ tử mỗi người đi một ngả để truyền bá Chính pháp, ngài cũng lên đường đến vùng Aruvera. Dọc đường, đức Phật đã thuyết pháp cho ba mươi thanh niên của làng Clan Phandhavakkhy. Cả ba mươi thanh niên này đều đắc quả A la hán, được đức Phật truyền thụ giới và lại được phái đi truyền đạo ở những nơi khác. Trong hai tháng ở tại Aruvera, đức Phật đã khuất phục được tính ngoan cố của đạo sĩ Aruvera Kassapa. Đạo sĩ này có 500 đồ đệ. Hai người em là Satil Nadhi Kassapa và Khaya Kassapa, mỗi người lần lượt có 300 và 200 đồ đệ, cũng đã được đức Phật thuyết pháp. Trong chuyến đi này, đức Phật đã độ được thêm 1003 đệ tử và đã cùng họ đến vùng Khaya Sisa. Dân chúng nơi đây cũng đã được giác ngộ giáo lý nhà Phật và đều đắc quả A la hán.

 

 

 

Đức Phật tế độ cho đức vua Tần Bà Sa La

Đức Phật đã dẫn 1003 A la hán đến thành Vương Xá do đức vua Tần Bà Sa La trị vì và nghỉ tại một khu rừng có tên là Litdhivan. Hay tin đức Phật sắp đến, đức vua liền cùng bá quan văn võ đích thân nghênh đón. Dân chúng nơi đây cùng kéo đến nghênh đón và tỏ lòng tôn kính đức Phật cao quý. Đức Phật đã bảo đại đức Aruvera Kassapa truyền giáo cho dân chúng về Satil faith. Đích thân đức Phật dạy về Anupubhapikkhadha trong bài thuyết giáo của ngài. Nghe xong, đức vua Tần Bà Sa La và số đông các triều thần đều đã chứng đạo, trong khi đó, những người chưa hề chứng đạo thì đã tự nhận là Buddhamamaka (môn đệ nhà Phật).

 

 

 

Đức Phật thọ lĩnh Toà tịnh xá đầu tiên

Sáng hôm sau, đức Phật cùng với các vị tỳ khưu thọ thực tại cung điện theo lời mời của Vua Tần Bà Sa La. Nhân dịp này, nhà vua ngỏ ý muốn dâng tặng đức Phật và các môn đệ vườn thượng uyển Veruvanna (Trúc lâm). Như vậy, Tịnh xá Trúc lâm đã trở thành nơi Phật ngự đầu tiên trên thế giới.

Lí do khiến Vua Tần Bà Sa La muốn dâng tặng Tịnh xá Trúc lâm cho đức Phật chính là vì ngài luôn ao ước trở thành vị vua đầu tiên được một đấng Đại Giác thuyết giáo và cũng bởi vì trước đây khi vẫn đang trong quá trình tìm kiếm chân lý, thái tử Tất Đạt Đa đã hứa sẽ trở lại sau khi ngài tu thành chính quả và ngài sẽ trở thành vị vua đầu tiên được truyền dạy đạo pháp. Đức Phật đã giữ lời hứa và trở lại tìm gặp đức vua Tần Bà Sa La đầu tiên. Bởi vậy, đức vua đã dâng tặng ngài Tịnh xá Trúc Lâm, ngôi đền Phật giáo đầu tiên, để toàn cõi thế gian biết rằng cái nôi của Phật giáo chính là thành Vương Xá của vương quốc Makkhot. Cũng vì lí do đó mà ngôn ngữ Makkhot đã được sử dụng rộng rãi trong Phật giáo cho tới ngày nay.

 

 

 

Người con có hiếu

Trong thời gian ngự tại tịnh xá, một hôm khi đang trên đường đi khất thực, đức Phật đã trông thấy một thanh niên đứng giữa đường, khắp người nhễ nhại mồ hôi như vừa ngâm dưới nước lên. Cậu ta đang chắp tay bái lạy sáu phương Đông, Tây , Nam , Bắc, Trời, Đất. Rồi sau đó, cậu ta rắc gạo và bày thức ăn ra khắp xung quanh. Cậu ta đang tỏ lòng biết ơn cha mẹ và thực hiện những điều mà cha mẹ dặn dò.

 

 

 

Đức Phật giảng giải về những nguyên nhân và thực tế

Sau khi chứng kiến toàn bộ sự việc đó, đức Phật liền bảo cậu thanh niên kia giải thích hành động kì lạ của mình. Cậu nói “Trước khi qua đời, cha tôi đã dặn rằng phải làm việc này đều đặn mỗi sáng để quỷ thần khắp bốn phương là các vị Chư Thiên và yêu ma dưới đất không quấy nhiễu cha tôi”. Nghe xong lời giải thích, đức Phật mới nói rằng: “Ngươi có tâm muốn giữ lời hứa với cha ngươi, đó là điều tốt, nhưng chủ đích của cha ngươi không phải bảo ngươi làm những việc này đâu”. Rồi ngài từ từ giải thích cho cậu thanh niên.

 

 

 

Đức Phật tế độ cho người thanh niên hiếu kính (I)

“Lý do người cha quá cố dặn ngươi đặt lễ và bái lạy ở phương Đông là vì cha ngươi có ý nhắc nhở ngươi phải luôn hiếu kính với những người đã mang đến cuộc sống cho ngươi, đặc biệt là cha mẹ ngươi. Dặn ngươi hành lễ ở phương Nam là vì cha ngươi có ý muốn ngươi phải có lòng tôn kính đối với các vị đạo sư, người đã truyền cho ngươi kiến thức và trí khôn. Dặn ngươi hành lễ ở phương Tây là vì cha ngươi có ý muốn ngươi phải biết chăm lo chu đáo cho vợ con ngươi. Dặn ngươi hành lễ ở phương Bắc là vì cha ngươi có ý muốn ngươi hết lòng yêu thương giúp đỡ bạn bè, bà con, hàng xóm. Dặn ngươi hành lễ với Trời là có ý muốn ngươi phải biết tôn kính các vị thầy tu, các bậc hiền nhân,…. Là con người thì phải biết tôn kính cha mẹ, sư phụ và những người đã giúp đỡ mình”

 

 

 

Đức Phật tế độ cho người thanh niên hiếu kính (II)

“Dặn ngươi hành lễ với Đất là vì cha ngươi có ý muốn ngươi phải luôn biết quý trọng cuộc sống của mọi sinh vật trên thế gian không kể kích cỡ bởi vì ai cũng muốn có hạnh phúc trên đời. Đây mới đúng thực là lời dặn của cha ngươi trước khi nhắm mắt. Làm được như vậy, ngươi cũng có thể bảo vệ bản thân mình khỏi những phiền nhiễu trong đời” . Đức Phật giải thích rõ ràng tỉ mỉ cho chàng Sinkhara cách đối nhân xử thế trong cuộc sống để ai ai cũng có được hạnh phúc và sung sướng. Ngài cũng giải thích cho cậu những lợi ích có được nếu không giết hại loài vật, không ăn trộm ăn cắp, không đắm mình trong lạc thú, không nói dối, và không uống rượu vì những điều đó sẽ huỷ hoại nhân cách con người.

 

 

 

Đức Phật tế độ cho người thanh niên hiếu kính (III)

Thêm vào đó, đức Phật cũng khuyên chàng trai chỉ làm việc này vào những dịp thích hợp để cầu mong sự thịnh vượng, vì cần phải tiết kiệm tiền kiếm được, không được tiêu tiền hoang phí, vô ích vì hạnh phúc cá nhân và của những người khác. Ngài còn khuyên chàng nên chia những đồng tiền vất vả mới kiếm được thành bốn phần, phần thứ nhất dùng để chi tiêu cho cuộc sống hằng ngày của gia đình, phần thứ hai dành để phát triển nghề nghiệp, phần thứ ba chi dùng cho những ngày mưa hạn hay trong những lúc khó khăn, phần thứ tư để giúp đỡ cha mẹ, anh em, bạn bè, xóm làng khi cần thiết. Sinkhara nghe những lời này với một thái độ rất tôn kính, sau đó chàng đã xin xuất gia theo Phật. Chàng hứa sẽ tiếp tục hành lễ theo lời chỉ dạy của đức Phật và mãi mãi sống một cuộc sống ngay thẳng theo những giáo lý nhà Phật.

 

 

 

Pháp Ammatta bất tử

Khi đức phật còn ngự ở Tịnh xá, có một giáo phái tên là “Paripasoka”, giáo chủ của giáo phái này là Sonxay. Giáo phái này có khoảng 200 người, trong đó Xá Lợi Phất (Uppatissa) và Mục Kiền Liên (Kolita) được coi là khôn ngoan lanh lợi nhất nhóm. Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là đôi bạn chí thân, cả hai quyết tâm cùng nhau học một cái gì đó thật siêu phàm gọi là Ammatta Dhamma (Đạo bất tử). Họ nghĩ rằng không thể học được đạo này từ giáo chủ nên đã tự đi tầm sư học đạo, và hứa với nhau rằng ai tìm ra trước thì sẽ dạy lại cho người kia. Ammatta Dhamma chỉ có thể tìm thấy trong giáo pháp của đức Phật, đó là những nguyên tắc của tự nhiên.

 

 

 

Xá Lợi Phất gặp đức Assasi

Vào một buổi sáng sớm, khi Xá Lợi Phất đang đi dạo trong thành thì chợt nhìn thấy đức Assasi đang khất thực. Xá Lợi Phất để ý ngay đến đức Assasi bởi vẻ lịch thiệp, điềm đạm và rất hòa nhã. Xá Lợi Phất rất ấn tượng với đức Assasi và càng đến gần càng thấy có thiện cảm với đức Assasi vì ngài có vẻ mặt lúc nào cũng vui tươi, đầy nhân từ, không đượm chút buồn bã lo lắng. Xa Lợi Phất cho rằng đức Assasi hẳn sẽ tu thành chính quả, chính là người mà chàng đang tìm kiếm. Nếu không đúng như vậy thì ít nhất vị tu sĩ này cũng phải là đồ đệ của một đạo sĩ đã tu thành chính quả. Bởi vậy, Xá Lợi Phất rất háo hức muốn biết về đức Assasi và vị đạo sư của ngài. Xá Lợi Phất quyết tìm ra sự thật.

 

 

 

Xá Lợi Phất đi theo đức Assasi

Tuy nhiên, thật không phải nếu tiến lại hỏi thăm khi đức Assasi đang trong lúc khất thực, bởi vậy chàng phải đợi. Chàng từ từ theo sau đức Assasi một quãng dài. Khi đã khất thực xong, đức Assasi tiến về phía cổng thành để trở lại Tịnh xá. Lúc đó, Xá Lợi Phất mới kính cẩn tiến đến và nói “Thưa Ngài, trông ngài rất thanh thản và đáng kính, gương mặt ngài rất trong sáng, xin hãy cho biết nơi ở, tên tuổi của ngài cùng với vị đạo sư của ngài. Tại sao ngài lại rời bỏ anh em gia đình để sống cuộc sống như vậy. Xin hãy giảng giải cho tôi'.

 

 

 

Lời giải thích từ đức Assasi

Đức Assasi mỉm cười đáp lại “Bần đạo là Assasi, vị đạo sư của bần đạo là vị Sa môn Cồ Đàm (Samma Khodom), thái tử Vương quốc dòng Thích Ca. Người đã từ bỏ ngai vàng để tìm đến với cuộc sống Brommacan cho đến khi đạt thành chính quả. Bần đạo rời xa gia đình, họ hàng và đi theo đức Phật. Tất cả những gì bần đạo đã làm chính là học theo giáo pháp của đức Phật ". Xá Lợi Phất nghĩ bụng, có lẽ đức Assasi biết điều gì đó về Đạo bất tử mà chàng và Mục Kiền Liên đang kiếm tìm bấy lâu. Bởi vậy chàng rất háo hức muốn nghe lời chỉ dạy của đức Assasi "Thưa ngài, ngài vừa nhắc đến giáo pháp của vị tôn sư của ngài, vậy vị đó dạy gì, và dạy như thế nào, xin hãy giải thích cho tôi vì tôi rất muốn được biết."

 

 

 

Bốn điều mà đức Assasi đã nói với Xá Lợi Phất

Đức Assasi từ tốn trả lời “Bần đạo gia nhập giới tu hành, đi theo đức Phật chưa lâu, bởi vậy bần đạo không thể giảng giải cặn kẽ cho thí chủ. Tuy nhiên, nếu thí chủ vẫn muốn nghe, bần đạo xin giảng giải ngắn gọn về hai, ba vấn đề." Xá Lợi Phất nói rằng chàng rất muốn nghe. Đức Assasi liền nói "Đức Phật đã dạy rằng: bất cứ điều gì nếu có nguyên nhân sinh ra đều có liên hệ với nguyên nhân gây đau khổ, và đó cũng chính là nguyên tắc diệt đau khổ.”

 

 

 

Xá Lợi Phất chứng đạo

Khi nghe những lời giảng giải của đức Assasi, Xá Lợi Phất nhận thức ngay được sự chân lý của Giáo pháp, đó là, bất cứ điều gì đã nảy sinh hoặc sẽ nảy sinh, cho dù muốn hay không, rồi cũng có một ngày phải chấm dứt. Rõ ràng chỉ có điều gì không nảy sinh thì mới thoát khỏi cái chết hay sự kết thúc. Xá Lợi Phất nói với đức Assasi rằng "Nếu đây là điều mà ngài học được từ sư phụ, rõ ràng ngài đã chứng đạo quả giác ngộ, vượt lên cả cái chết, điều chưa bao giờ tồn tại trên thế gian này." Sau khi cảm ơn đức Assasi, Xá Lợi Phất hỏi thăm nơi ở của đức Phật và các môn đệ rồi chào tạm biệt đức Assasi. Như vậy là chàng có thể báo cho người bạn thân Mục Kiền Liên biết rằng chàng đã tìm được Đạo bất tử, không còn nghi ngờ gì nữa.

 

 

 

Khi đã tìm đến pháp
đế thì trí tuệ ắt sẽ phát triển một bậc

Giờ đây, sắc mặt Xá Lợi Phất trông cũng rất vui tươi hạnh phúc, giống như đức Assasi, người đã giảng giải đạo giải thoát cho chàng. Người bạn thân của Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, khi gặp chàng cũng nhận ra ngay sự thay đổi trong sắc mặt của chàng, liền hỏi: "Có chuyện gì vậy? Trông bạn rất vui vẻ, hạnh phúc và thanh thản. Chắc bạn đã tìm ra Đạo bất tử mà chúng ta đang tìm kiếm?" Xá Lợi Phất đáp lời "Phải đấy. Tôi đã tìm ra Đạo bất tử. Mục Kiền Liên liền hỏi như một cái máy "Nó như thế nào?" và Xá Lợi Phất đã thuật lại rằng chàng đã gặp một thầy tu rất lạ rồi sau đó, nhắc lại lời của đức Assasi "Pháp dành cho những người hiểu và tin nó, nếu chứng ngộ được đạo pháp thì sẽ thoát khỏi mọi khổ đau"

 

 

 

Đức Phật và hai đệ tử
“Pháp là Ananta, pháp là vô hình, pháp là bất diệt”

Khi nghe những lời Xá Lợi Phất nói, Mục Kiền Liên đã hình dung thấy đạo pháp trong đầu và hiểu rằng Ammatta Dhamma (Đạo bất tử) đã luôn tồn tại, trước cả khi đức Phật khám phá ra nó. Ammatta Dhamma không phải dưới hình thức của Rupa, Rosa, Sadda, Gandha, Phodhappha và Dhammarom, và vì vậy Rupa, Rosa, Sadda và Mano không thể cảm được Ammatta Dhamma, vậy nên Ammatta Dhamma là bất diệt. Cuối cùng, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên cùng các môn đệ của giáo phái Parisoka đã đến Tịnh xá Trúc lâm đảnh lễ trước đức Phật. Tất cả sau đó đều được đức Phật độ cho, ngoại trừ Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên vì hai vị đã được đức Assasi thuyết pháp từ trước và đã chứng ngay Sotappana ( Tu đà Huờn ) . Bảy ngày sau khi xuất gia, Mục Kiền Liên đã đắc quả A La Hán, trong khi Xá Lợi Phất phải mất tới mười lăm ngày.

Sau đó, Xá Lợi Phất được phong là đệ tử tay phải và gọi là đức Saribouth còn Mục Kiền Liên được phong là đệ tử tay trái, gọi là đức Mokkhanla. Hai từ Phra Khadha do đức Assasi đưa ra, sau này được phong cho đức Assasi, thành Phra Khadha Assasi và vẫn được kể lại trong đạo Phật cho tới ngày nay.

 

 

 

Buổi thuyết pháp lớn của Đức Phật – Caturongkha Sannibath
– buổi thuyết pháp dành cho các A la hán

Khi đức Phật còn ngự ở Tịnh xá Trúc Lâm, có một buổi thuyết pháp lớn, theo tiếng Phạn gọi là Caturongkha Sannibhath. Để có được buổi thuyết pháp này thì phải hội đủ bốn yếu tố Unrathakatha như sau:

  1. Ngày ấy phải là ngày rằm tháng Ba (Makkha Punnamy Day)
  2. Có mặt 1250 môn đệ mà không hề hẹn trước
  3. Tất cả 1250 vị này đều đã đắc quả A La Hán ở mức "Abhinya-6'"
  4. Tất cả 1250 vị này đều là Ehibikkhu, đã được đích thân đức Phật độ cho

Buổi thuyết pháp Caturongkha Sannibhath được coi là một trong những sự kiện lớn của đạo Phật. Bởi vậy, các môn đệ của nhà Phật trên khắp thế giới đều tổ chức kỷ niệm ngày này vào ngày rằm tháng Ba hàng năm để tưởng nhớ đến đức Phật và 1250 vị A la hán khi đó. Ngày này được gọi là ngày Makha Puja Day. Trong buổi thuyết giáo gồm 1250 vị A la hán đó, đức Phật đã thuyết về Desana Patimokkha, nhấn mạnh những điều sau:

  1. Không làm điều ác
  2. Luôn luôn làm điều thiện (ngay thẳng, lành mạnh) cho đến khi đạt được mục đích.
  3. Luôn giữ cho tâm được trong sạch

Đây chính là nội dung chính của đạo Phật trong lần chuyển pháp luân đầu tiên của đức Phật.

 

 

 

Buổi thuyết pháp dành cho các vị A La Hán vào ngày Maga Puja

Sau khi đại đức Mokkhanla và đại đức Saribouth xuất gia, đức Phật chủ trì một buổi thuyết pháp lớn bao gồm tất cả các vị A la hán. Đây được coi là một trong những sự kiện quan trọng nhất – ngày Maga Puja của Phật giáo khắp nơi trên thế giới. Tới dự buổi thuyết giáo này là 1250 vị A la hán do chính đức Phật sắc phong (ordain) và đã được đức Phật phái đi khắp nơi để truyền bá đạo pháp. Không hề hẹn trước, họ đều vô tình trở về thành Vương Xá để vấn an đức Phật vào cùng một ngày. Buổi thuyết pháp này gọi là Caturongkha Sannibhath. Trong suốt buổi thuyết pháp, đức Phật đã giảng giải đạo pháp, tập trung vào ba mươi hai nguyên tắc cư xử trong nhà Phật, trước tiên là không làm điều ác, luôn làm điều thiện, giữ tâm trong sạch, hiểu con đường đến Niết bàn, sống giản dị, trong sạch, thận trọng trong cách cư xử, không phô trương phép thuật, không nói chuyện tầm phào, không quấy rầy bản thân và những người khác. Những lời dạy của đức Phật dành riêng cho các vị A la hán trong buổi thuyết pháp này đã được coi như giáo pháp nhà Phật và vẫn được tuân thủ cho tới ngày nay.

 

 

 

Đức vua Tịnh Phạn thỉnh mời đức Phật trở về

Được tin thái tử đã đắc đạo, trở thành Phật và về ngự ở Tịnh xá Trúc Lâm, đức vua Tịnh Phạn liền cho người đi đón đức Phật trở về. Tuy nhiên, tất cả các đại thần được phái đến Tịnh xá, sau khi nghe đạo pháp đều xuất gia trở thành đệ tử của Phật, quên hết lời dặn của đức vua, không bao giờ trở lại. Cuối cùng, đức vua quyết định phái một vị đại thần tên là Karudhayi. Vị này vô cùng thông minh sắc sảo, vốn là bạn thân lúc thiếu thời của thái tử. Karudhayi đã được biết tất cả mọi người sau khi nghe giáo pháp của đức Phật đều xin xuất gia tu hành. Bởi vậy, đến lượt mình, khi đức Phật bắt đầu giảng đạo, Karudhayi liền lấy bông nhét vào hai lỗ tai. Chỉ sau khi đức Phật thuyết pháp xong, Karudhayi mới tháo bông ra rồi cúi xin đức Phật hãy trở về thành Ka Tỳ La Vệ tế độ cho đức vua, vợ con và cả hoàng gia. Đức Phật nhận lời và quyết định trở về thành Ka Tỳ La Vệ tế độ cho quyến thuộc trong lần chuyển pháp luân thứ hai.

 

 

 

Đức Phật trở về thành Ka Tỳ La Vệ

Đức Phật cùng với các vị chư tăng đến thành Ka Tỳ La Vệ vào lúc tối trời và nghỉ tại vườn Nikhodharam ở phía ngoài thành theo sự sắp xếp của vua Tịnh Phạn. Sáng hôm sau, như thường lệ, đức Phật cùng các vị chư tăng cầm bát đi khất thực. Ngài cũng vào thành khất thực và tế độ cho dân chúng. Lính canh cổng đã báo tin này cho nhà vua, điều này khiến ngài vô cùng tức giận vì cho rằng đức Phật đã hạ mình mà giao thiệp với đám dân thường.

 

 

 

Đức vua Tịnh Phạn tức giận đứng nhìn

Nhà vua ngay lập tức cho chuẩn bị sa giá đến nơi mà đức Phật đang khất thực. Đến nơi, đức vua chứng kiến cảnh đức Phật đang đứng giữa đám đông, trong tay là chiếc bát đựng đầy đồ cúng tế. Trên đường đức Phật đến cung điện, dân chúng đứng đầy hai bên đường vui mừng nghênh đón. Đức vua trong lòng vô cùng giận dữ vì nghĩ rằng mọi thứ trong vương quốc này đều thuộc về ngài, ngài có thể lấy đi bất cứ cái gì, bất cứ lúc nào mà không cần cầu xin ai cả. Trong khi đó, đối với đức Phật, và cả những người đã chứng ngộ đạo giải thoát, đây chỉ là một công việc vẫn làm thường ngày.

 

 

 

Cơn giận của đức vua Tịnh Phạn

Đức vua liền tiến đến chỗ đức Phật và nói đầy vẻ thất vọng: "Con trai yêu quý nhất của ta, ta thật không hài lòng khi chứng kiến cảnh này. Tại sao con lại phải cầm bát đi khất thực? Con rời bỏ hoàng cung chỉ vì những thứ này thôi sao? Con là con trai ta, người trị vì vương quốc, và cũng là một thái tử nữa. Nhưng con trai, thái tử yêu quý nhất của ta đã khiến cả hoàng gia ta phải hổ thẹn. Chưa từng có ai trong gia đình ta phải làm cái công việc đáng hổ thẹn này, xin của bố thí từ đám dân thường". Thế nhưng trong suy nghĩ của đức Phật, đây là một việc đúng đắn mà đức Bồ Tát từ bi cần phải làm để tế độ cho mọi chúng sinh thoát khỏi khổ đau.

 

 

 

Khất thực không phải là ăn xin
mà là một cách tế độ chúng sinh

Khi thấy đức vua giận dữ vì nhầm tưởng khất thực là ăn xin, đức Phật liền nói: "Tâu đại vương, đây là phận sự mà tất cả các chư Phật đều làm trong quá khứ." Đức vua khẳng định "Trong trí nhớ của thần dân thành Ka Tỳ La Vệ này thì chưa từng có ai trong hoàng tộc lại làm một việc đáng hổ thẹn đến chừng ấy" . Đức Phật mới đáp rằng "Tâu đại vương, ngài nói đúng, nhưng lúc này, ta không nói đến người thừa kế ngai vàng mà nói đến phận sự của đức Phật từ bao đời trước đây."

 

 

 

Đức vua Tịnh Phạn tiếp nhận chiếc bát khất thực từ đức Phật

Đức Phật nói tiếp "Bởi giờ ta đã là người tu hành nên những việc ta đang làm là hợp lẽ, đúng phận sự, đúng như những gì mà các vị chư Phật đã từng làm, khất thực chính là cách để tế độ cho chúng sinh. Sau đó, đức Phật giảng giải ngắn gọn về Pháp đế cho đức vua nghe. Đức vua cố gắng hiểu những điều mà đức Phật nói, trong lòng đã nguôi giận. Cuối cùng nhà vua đã chấp nhận chiếc bát khất thực từ đức Phật, rồi mời đức Phật cùng các môn đệ vào cung để họ có thể tiếp tục đi khất thực. Đức Phật nhận lời mời rồi cùng các môn đệ tiến vào thành.

 

 

 

Đức Phật tế độ cho nhà vua và hoàng hậu

Khi đức Phật vào cung, đức vua và gia quyến đã chuẩn bị bữa sáng và mời đức Phật thọ thực trong chiếc bát khất thực. Sau đó, đức Phật bắt đầu thuyết pháp cho đức vua, di dưỡng cùng với các thành viên khác trong hoàng tộc. Ngài cố gắng giảng giải thật cặn kẽ, dễ hiểu về pháp diệt khổ mà ngài đã mất bao nhiêu năm tìm kiếm. Họ hiểu, chấp nhận và đã sẵn sàng hành đạo. Cuối cùng, tất cả đều xuất gia, trở thành các nam nữ tín đồ tu tại gia (Upasok và Upasika). Về phần vua Tịnh Phạn, vì ngài hiểu về đạo diệt khổ khá sâu sắc nên ngài đã đắc quả Anakhamiphol (quả thánh thứ hai - Tu đà hàm), còn bà dì mẫu thì đắc quả Sotapattiphol (quả thánh thứ nhất - Tu đà huờn).

 

 

 

Đức Phật tế độ cho vợ – hoàng hậu Gia Du Đà La

Sau đó, đức Phật đến tế độ cho vợ. Từ ngày thái tử rời bỏ hoàng cung, nàng vô cùng thất vọng, buồn bã, sinh ra ốm yếu. Bởi vậy, nghe lời đức vua, hoàng hậu nằm nghỉ trong cung thất. Nàng thậm chí còn không đủ sức để rời khỏi phòng như những người khác để đi nghênh đón đức Phật. Khi vào phòng hoàng hậu, đức Phật liền thuyết pháp độ cho nàng và giảng cho nàng hiểu về ân đức và tấm lòng thủy chung của nàng trong những kiếp sống trước. Hoàng hậu đã hiểu ra Sacca Dhamma và chứng ngay Tu đà huờn. Về phần thái tử La Hầu La, khi ấy mới lên bảy tuổi nhưng vẫn được đức Phật nhận vào tăng đoàn và được đại đức làm lễ sắc phong thành sư tiểu. La Hầu La là sư tiểu đầu tiên trong Phật giáo. Việc này đã trở thành một trong những nguyên tắc của nhà Phật, đó là những ai muốn xuất gia làm sư tiểu thì phải bảy tuổi trở lên.

 

 

 

Thái tử Nandha nhận lấy bát khất
thực và xuất gia vào đúng ngày hôn lễ

Kể từ ngày đắc đạo, đây là lần đầu tiên đức Phật trở về thành Vương Xá. Vua Tịnh Phạn đã nghênh đón đức Phật và mang theo bát khất thực vào cung để tế độ cho các ưu bà tái và ưu bà di. Trong cung cũng đang tổ chức lễ thành hôn cho thái tử Nandha, em cùng cha khác mẹ của đức Phật. Vua Tịnh Phạn có ý định truyền ngôi cho thái tử Nandha ngay sau lễ cưới. Sau khi thọ thực, đức Phật liền trao bát khất thực của ngài cho thái tử Nandha. Thái tử Nandha vui vẻ nhận lấy chiếc bát và nghĩ bụng khi đức Phật ra đến cổng, chàng sẽ gửi lại bát cho ngài rồi trở lại. Nhưng điều đó không xảy ra. Khi đến cổng, đức Phật vẫn tiếp tục đi, không ngoái đầu nhìn lại. Nandha đành theo sau đức Phật cho tới khi ngài ngự về chùa. Thái tử toan trao lại bát cho đức Phật thì ngài liền hỏi chàng có muốn xuất gia làm tăng không. Thái tử không thể từ chối vì chàng không muốn làm đức Phật thất vọng. Chàng nghĩ bụng sau hai hoặc ba ngày nữa thì mọi việc đâu sẽ lại vào đấy, bởi vậy chàng chấp thuận. Sau khi xuất gia, mọi việc diễn ra không như chàng nghĩ. Thái tử mất ăn mất ngủ, trong dạ lúc nào cũng bồn chồn lo lắng. Chàng không nguôi nghĩ về vị hôn thê của mình.

 

 

 

Đức Phật đưa đức Nandha lên thăm Thượng giới

Biết được những tâm tư suy nghĩ của đức Nandha, đức Phật có ý muốn đưa Nandha lên thượng giới cho dứt hẳn mọi khổ đau. Đức Nandha sau khi xuất gia, tâm không tại đạo, không thiết chuyện tu hành, trong đầu chỉ nghĩ đến việc hoàn tục. Đức Phật liền đưa đức Nandha lên thăm thượng giới. Dọc đường đi, đức Phật chỉ cho Nandha thấy một con khỉ cái, trên tai đầy vết sứt sẹo thâm tím, đang ngồi trên một gốc cây cháy đen. Khắp người nó phủ đầy tro bụi.

Khi lên đến thượng giới, đức Phật lại chỉ cho Nandha các tiên nữ xinh đẹp tuyệt trần, vẻ đẹp của các nàng dưới hạ giới không thể sánh kịp. Đức Phật bảo Nandha thử so sánh vẻ đẹp của các tiên nữ với vị hôn thê của mình, đức Nandha liền trả lời rằng sắc đẹp của nàng chỉ có thể so với con khỉ vừa gặp. Nhân đà này, đức Phật mới giảng giải cho đức Nandha về vẻ đẹp của tâm hồn. Lý do chính khiến con người mê mẩn trước một vẻ đẹp ngay lúc ban đầu đó là vì anh ta chưa bao giờ nhìn thấy ai đẹp hơn thế. Nhưng một khi nhìn thấy cái gì khác đẹp hơn, lập tức anh ta sẽ cho rằng cái sau đẹp hơn cái trước bội phần. Đây là một quá trình không bao giờ có điểm dừng. Khi đức Phật hỏi đức Nandha có thích các tiên nữ không, Nandha không ngần ngại đáp luôn rằng có. Nghe xong, đức Phật liền khuyên nhủ Nandha nên tập thiền tu tất sẽ được như ý. Khi trở về hạ giới, đức Nandha bắt đầu chăm chỉ khổ luyện, cuối cùng cũng được đắc quả A la hán.

 

 

 

Thái tử La Hầu La xuất gia,
trở thành sư tiểu đầu tiên của nhà Phật

Như vậy, không chỉ có La Hầu La xuất gia trở thành sư tiểu đầu tiên của nhà Phật, đức Phật cũng đã truyền thụ giới cho thái tử Nandha (sau này là Tôn giả Anonh), người em cùng cha khác mẹ của ngài. Trước khi xuất gia, tất cả đều biết rằng thái tử đang trong lễ thành hôn của mình. Biết được tin này, ngay sau khi khất thực xong, đức Phật liền đến cung điện của thái tử Nandha, trao cho chàng chiếc bát để chàng mang theo về Tịnh xá nơi Ngài đang ngự. Thái tử Nandha vừa tới Tịnh xá, đức Phật ngay lập tức để thái tử xuất gia và đưa chàng lên thăm thượng giới để chàng được tĩnh tâm trở lại. Vua Tịnh Phạn, ngay sau khi nghe tin La Hầu La và thái tử Nandha xuất gia vô cùng tức giận. Đức vua liền đến hầu Phật mà thỉnh cầu rằng "Phải được sự ưng thuận của cha mẹ thì con cái mới được phép xuất gia." Bởi vậy, kể từ đó cho đến nay, "con cái muốn xuất gia phải được cha mẹ đồng ý, tương tự, một người đã có gia đình muốn xuất gia cũng phải được người chồng hay vợ của mình đồng ý."

Ngoài thái tử Nadha và La Hầu La xuất gia, rất nhiều thái tử trong dòng tộc Thích ca cũng đi theo đức Phật đến khu Anupiya Umphavan xin được xuất gia, trong đó có thái tử Bhandhiya, thái tử Anuroutdha, thái tử Bhakkhu, thái tử Kimbhila và thái tử Devadhat. Ngoài ra còn có một thợ cắt tóc tên là Ubaly và rất nhiều thanh niên theo đức Phật xuất gia.

Đức Phật trở về thành Vương Xá và ngự tại Tịnh xá Trúc lâm. Một hôm, có một nhà buôn giàu có tên là Anadhapinatika đến buôn bán tại thành Vương Xá. Tại đây, nhà buôn này đã có cơ hội được nghe giáo pháp của đức Phật và đã lĩnh hội được ngay những chân lý vi diệu. Ông liền mời đức Phật ghé thăm thành Sarvatthy. Về phần mình, nhà buôn đã dùng tiền vàng dâng lên đức Phật để mua lại một khu đất của nhà vua Setakumal và xây ở đây một Tịnh xá lấy tên là Setavanna (Kỳ viên). Ông đã mời đức Phật cùng chúng đệ tử về ngự tai đây. Tịnh Xá Kỳ Viên là nơi đức Phật ngự lại lâu nhất (khoảng 19 năm) trong số những nơi mà Ngài đã từng ngự lại.

 

 

 

Đức Phật trở về hoàng cung tế độ cho vua cha

Đã được năm năm kể từ ngày đức Phật về thăm thành Ka Tỳ La Vệ. Trong suốt hạ thứ 5, đức Phật ngự tại tư thất Kutakharasala trong rừng Mahavanna của thành Vesaly, vương quốc Vassy. Khi đang nhập hạ, đức Phật nghe tin phụ vương ngài, đức vua Tịnh Phạn, đang lâm trọng bệnh, ngài lập tức cùng các môn đệ trở về thành Ka Tỳ La Vệ. Ngay trong ngày đầu tiên về đến thành, đức Phật vội vàng đến trình diện phụ vương. Được gặp lại đứa con trai yêu quý nhất, đức vua thấy bệnh tình trong người như thuyên giảm. Ngài liền nói với đức Phật "Con đến vừa kịp lúc cứu lấy cuộc đời ta". Đức Phật tìm mọi cách để kéo dài sự sống cho phụ vương thêm 7 ngày, và trong suốt khoảng thời gian đó, ngài dành thời gian thuyết pháp cho đức vua. Đến ngày thứ 7, đức vua đã đắc quả A la hán, sau đó ngài từ từ qua đời.

 

 

Hoàng hậu Maha Pasabody Gotamy và các bà trong hoàng tộc
xin được yết kiến đức Phật

Sau khi vua Tịnh Phạn qua đời, hoàng hậu Pasabody Gotamy, người đã nuôi dưỡng đức Phật như con ruột của mình, không còn muốn sống cuộc sống trần tục nữa. Bà hết sức đau buồn vì cái chết của đức vua nên chỉ mong được xuất gia, ngày đêm hầu cận bên đức Phật. Hoàng hậu Gotamy và rất nhiều phụ nữ khác trong cung đều nguyện đi theo đức Phật và xin được xuất gia tu hành để có thể luyện tập Brommacan .

 

 

 

Đức Phật từ chối lời thỉnh cầu của hoàng hậu Maha Pasabody

Hoàng hậu Maha Pasabody đã ba lần cầu xin đức Phật được xuất gia nhưng ngài đều từ chối. Đức Phật khuyên bà đừng cầu xin thêm nữa. Hoàng hậu Maha Pasabody và các phụ nữ trong cung rất lấy làm buồn phiền, thất vọng, khóc lóc không thôi.

 

 

Hoàng hậu Maha Pasabody xin được xuất gia

Sau lễ an táng vua Tịnh Phạn, đức Phật trở lại khu rừng Mahavanna ở thành Vesaly. Hoàng hậu Maha Pasabody xuống tóc, mặc y vàng, cùng công chúa và rất nhiều phụ nữ khác rời khỏi cung thành, đi bộ đến nơi Phật ngự. Họ không thể đi nhanh được vì đi bộ, lại đi chân đất nên chân bị sưng phồng hết cả, nhưng cuối cùng họ vẫn gắng sức đến được nơi Phật ngự. Các bà kiên quyết xin được xuất gia làm Bikkhuni (tỳ kheo ni).

 

 

 

Tôn giả Anonh đứng ra giải quyết tình huống

Sau khi hoàng hậu Maha Pasabody cùng công chúa Sakiyani đến nơi đức Phật ngự, họ đã kiệt sức sau một quãng đường dài. Tất cả đều đi chân trần, điều mà họ chưa từng làm trong đời. Với bàn chân sưng phồng vì đau nhức, quần áo bám đầy bụi bẩn, các bà đứng ngoài Tịnh xá, nhất quyết đòi sự công bằng cho phụ nữ. Tôn giả Anonh được cử ra ngoài tiếp kiến. Ngài hỏi nguyên do khiến họ buồn bã đau khổ, thân hình thì tiều tuỵ. Hoàng hậu mới đáp rằng họ hành xác là để tìm kiếm sự công bằng cho phái nữ và để trình bày tâm nguyện muốn được xuất gia trở thành môn đệ nhà Phật như nam giới.

 

 

 

Đức Phật từ chối lời cầu xin của Tôn giả Anonh

Tôn giả Anonh động lòng trắc ẩn, hứa sẽ thay mặt các bà vào xin với đức Phật cho phép các bà xuất gia tu hành. Ngài vào hầu Phật, thay mặt các bà cầu xin như đã hứa, nhưng đức Phật cũng không chấp nhận và còn nói rằng "Anonh này, ngươi đừng cầu xin ta thêm nữa". Nhưng Tôn giả Anonh vẫn nhất nhất không chịu thôi.

 

 

 

Tôn giả Anonh một lòng cầu xin

Tôn giả Anonh liên tục cầu xin đức Phật tới hai, ba lần, nhưng lần nào cũng đều bị từ chối. Tôn giả Anonh tự nhủ rằng nếu cầu xin trực tiếp, đức Phật không khi nào bằng lòng, nhưng nếu gián tiếp thỉnh cầu có lẽ sẽ được. Nghĩ vậy Ngài liền thưa với đức Phật rằng nếu phụ nữ rời bỏ gia đình xuất gia trở thành tăng ni và tu học theo pháp giáo của đức Phật thì họ có thể đắc quả A La Hán và lên cõi Niết bàn không. Đức Phật trả lời rằng nếu phụ nữ đã rời bỏ gia đình trở thành tăng ni và nghiêm khắc học theo giáo pháp thì họ cũng có thể đắc quả A la hán và lên cõi Niết bàn ngay trong kiếp sống này.

 

 

 

Tôn giả Anonh kiên trì thỉnh cầu

Nghe những điều mà đức Phật nói, Tôn giả Anonh mới bạch rằng nếu phụ nữ có thể đắc đạo, vậy xin đức Phật mở lòng từ bi cho hoàng hậu Maha Pasabody Gotamy, người đã có ơn lớn với đức Phật, được xuất gia. Bà là di mẫu của đức Phật và cũng là người chăm sóc nuôi dưỡng ngài sau khi Phật mẫu qua đời. Cầu xin đức Phật cho phép bà được xuất gia, được hành đạo ( brommacan ) như các vị tỳ khưu để bà có thể chứng ngộ Pháp đế (Sacca Dhamma) mà ngài đã truyền bá cho chúng sinh trên khắp thế gian.

 

 

 

Đức Phật chấp thuận lời thỉnh cầu của Tôn giả Anonh
để hoàng hậu Maha Passabody Gotamy được xuất gia
Những cố gắng của Tôn giả Anonh đã thành công

Đức Phật mới dạy Anonh rằng "Phụ nữ nói chung bản tính mềm yếu, dễ xúc động. Bởi vậy, họ phải chấp nhận thực hiện theo tám trọng pháp, gọi là Garu Dhamma dưới đây:

  1. Dù tỳ khưu ni (nữ tăng ni) có xuất gia lâu như thế nào chăng nữa, cũng phải kính trọng thầy tỳ khưu cho dù thầy tỳ khưu mới thọ giới một ngày.
  2. Tỳ khưu ni không được ở nơi nào một mình mà không có thầy tỳ khưu.
  3. Mỗi tháng hai lần, tỳ khưu ni phải cầu giáo giới chư Tăng (đến nghe lời giáo huấn) của một thầy tỳ khưu đã chỉ định.
  4. Tỳ khưu ni phải thề rằng họ chịu để thầy tỳ khưu và những tỳ khưu ni khác căn dặn, chỉ ra lỗi sai và trừng phạt vào ngày đưa ra lời thề nguyện.
  5. Nếu tỳ khưu ni phạm những lỗi nghiêm trọng thì sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc và bị trục xuất khỏi nhị bộ Tăng Ni.
  6. Trước khi xuất gia làm tỳ khưu ni, họ phải hầu việc các chư Tăng ít nhất hai năm.
  7. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, các tỳ khưu ni cũng không được trách mắng hay sỉ vả tỳ khưu. Tỳ khưu ni phải chịu sự giáo huấn của các tỳ khưu nhưng không được phép giáo huấn lại các tỳ khưu. Họ cũng phải tuân thủ các giới luật dành cho Tỳ khưu ni bắt đầu từ các giới luật chung, bên cạnh đó còn phải thực hành thêm tám trọng pháp cho đến khi thọ hết ba trăm hai mươi giới luật dành cho Tỳ khưu ni.

Nếu thái hậu đồng ý tuân thủ tám trọng pháp, ba mươi huấn pháp và hành theo ba trăm hai mươi giới luật đối với tỳ khưu ni suốt đời thì có thể trở thành tỳ khưu ni thực thụ. Điều này diễn ra trong Phật giáo và tại thời điểm này chưa có bất kỳ tỳ khưu ni nào.

The Eight Dhamma Precepts

1. Panatipatave Ramany Sikkhapadhang Sammadhiyami
( Cố gắng không làm hỏng cuộc sống của loài người )
2. Adhina Dhanave Ramany Sikkhapadhang Sammadhiyami
( Cố gắng không lấy những thứ không giành cho mình )
3. Abhommacariyave Ramany Sikkhapadhang Sammadhiyami
( Cố gắng không phạm vào dục )
4. Musavadhave Ramany Sikkhapadhang Sammadhiyami
( Cố gắng không phát ngôn sai )
5. Surameraya Mussapama Dhatdhanave Ramany Sikkhapadhang Sammadhiyami
( Cố gắng không dùng những đồ uống gây say và matúy là những chất làm con người dễ gây ra những hành động bất cẩn )
6. Vikarobhosanave Ramany Sikkhapadhang Sammadhiyami
( Cố gắng nhịn ăn vào những dịp phải kiêng kị )
7. Natcakhytava Dhikavisuka Dhassana Malakhandhavile Panadharananta Navibhusanatthanave Ramany Sikkhapadhang Sammadhiyami
( Cố gắng không tham dự vào các hoạt động giải trí như là khiêu vũ, hát, nghe nhạc, xem các trò tiêu khiển, ăn mặc loè loẹt, sử dụng nước hoa và mỹ phẩm làm đẹp thân thể )
8. Utcasaya Namaha Sayanave Ramany Sikkhapadhang Sammadhiyami

( Cố gắng không nằm ngủ ở những nơi xa hoa )

Nếu thái hậu đồng ý tuân thủ tám trọng pháp, ba mươi huấn pháp và hành theo ba trăm hai mươi giới luật đối với tỳ khưu ni suốt đời thì có thể trở thành tỳ khưu ni thực thụ. Điều này diễn ra trong Phật giáo và tại thời điểm này chưa có bất kỳ tỳ khưu ni nào

 

 

Tôn giả Anonh báo tin mừng cho hoàng hậu Maha Pasabody Gotamy

Sau khi đức Phật chấp thuận cho giới nữ xuất gia, Tôn giả Anonh liền trở ra ngoài gặp hoàng hậu và công chúa Sakiyani. Nghe xong tám trọng pháp, hoàng hậu hết sức biết ơn Tôn giả và nói rằng: "Thưa Tôn giả Anonh, lẽ thường đôi lứa lúc yêu nhau, khi tắm rửa trang điểm xong, họ đều thích cài hoa lên đầu. Cũng ví như tôi đây, trân trọng tám điều mà Đức Phật đề ra, xin tuân thủ đến trọn đời." Từ đây, nhà Phật có thêm tỳ khưu ni cùng với ba trăm hai mươi giới luật.

 

Đức Phật và Tôn giả Anonh đàm luận về việc xuất gia của Tỳ khưu ni

Có được lời hứa của thái hậu Maha Pasabody Gotamy và công chúa Sakiyani, Tôn giả Anonh trở lại hầu Phật, thuật lại mọi việc và thưa rằng hoàng hậu Maha Pasabody Gotamy và công chúa Sakiyani rất vui lòng chấp thuận tám trọng pháp do đức Phật đề ra và bởi vậy tất cả các bà đều trở thành tỳ khưu ni thực thụ. Đức Phật mới dạy Tôn giả Anonh rằng "Này Anonh, giáo pháp mà các tỳ khưu ni chấp thuận học theo đến trọn đời sẽ không thể tồn tại lâu dài. Trong gia đình nào có nhiều phụ nữ hơn nam giới, họ sẽ khó mà đủ sức chống cự khi có cướp vào nhà. Điều này cũng giống việc khi phụ nữ xuất gia theo giáo pháp nào thì giáo pháp đó khó mà tồn tại lâu dài được." Thái hậu Maha Pasabody Gotamy, sau khi chấp thuận tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt, đã trở thành tỳ khưu ni đầu tiên của Phật giáo. Kể từ lúc ấy, Phật giáo có đủ tứ chúng là tỳ khưu, tỳ khưu ni, ưu bà tái (nam tín đồ tu tại gia), ưu bà di (nữ tín đồ tu tại gia). Khi thái hậu Maha Pasabody Gotamy xuất gia, dân chúng thành Ka tỳ la vệ đã thỉnh cầu thái tử Mahanama, con trai đức vua Amitodhamma đứng lên trị vì vương quốc sau khi đức vua Tịnh Phạn qua đời. Về phần công chúa Gia Du Đà La, bà cũng xin xuất gia thành tỳ khưu ni vào hạ thứ năm của đức Phật.

 

Sự nghiệp giáo hoá và thuyết pháp của Đức Phật từ Hạ thứ sáu đến Hạ thứ ba mươi hai

Hạ thứ sáu

Đức Phật nhập hạ tại thành Banpot. Nơi đây, đức Phật đã thuyết pháp và chinh phục được chư Thiên và yêu ma khiến chúng phải ngưỡng mộ và đặt niềm tin vào Phật giáo.

Hạ thứ bảy

Vào ngày rằm tháng Tám, từ thành Thất La Phiệt (Savatdhy), đức Phật đã dùng phép thần thông ngự lên cõi trời Đạo Lợi (Davadingsa) nhập hạ, và thuyết bộ pháp thứ bảy là Abhidhamma (Vi diệu pháp) tế độ cho Phật mẫu. Thiên vương Đế Thích (Indra), Chư Thiên (Bhromma), các thần và nữ thần khác cũng từ cõi trời Đâu suất (Dussita) ngự xuống để nghe đức Phật giảng đạo. Khi hạ thứ bảy kết thúc, đức Phật liền bay xuống trần gian và ngự tại thành Sangkassa. Ngày đức Phật giáng trần gọi là ngày Devorohanna vì trong ngày đó, nhờ có đức Phật dùng phép nên dân chúng mới được tận mắt thấy Thiên vương Đế Thích (Indra), chư Thiên và các vị thần, thấy thượng giới, địa ngục cùng thế giới của Garuda (Ca lâu la) và Naga (Long). Điều này giải thích tại sao con người lại biết đến sự tồn tại của các vị thần này cũng như thế giới của Garuda, Naga và địa ngục.

Hạ thứ tám

Đức Phật nhập hạ ở Phesakala Mikkhadhayavan tại khu rừng ở ngoại thành Soungsoumalkhira. Nơi đây là lãnh địa của đức vua Phodhirath Kumal, con trai đức vua Oudhen. Đức phật đã thuyết pháp về vô lượng kiếp sống trước đây của ngài cho đến ngày chuyển pháp luân lần đầu tiên.

Hạ thứ chín

Đức Phật chấp nhận lời mời của cự phú Gosoka đến nhập hạ tại đền Gosidharam trong thành Gosamphy do ông xây dựng. Đức vua Oudhen trị vì thành này. Trong lần thuyết pháp thứ chín, đức Phật đã tế độ cho công chúa Magandhiya, kẻ đã thuê người xỉ nhục, nguyền rủa đức Phật và cho người đốt cháy tư dinh của công chúa Samavady khiến nàng bị thiêu cháy trong đống lửa. Theo luật nghiệp báo, công chúa Magandhiya cũng đã bị hành quyết.

Hạ thứ mười

Trong thời gian này, chư Tăng ở thành Gosamphy xảy ra xích mích và chia thành hai phe, phe thứ nhất theo đức Vinaythorn, phe thứ hai theo đức Dhammathorn. Ngài khuyên chư Tăng đừng gây gổ, nhưng cả hai đều không nghe lời, vẫn không ngừng cãi vã nhau. Điều này khiến đức Phật hết sức đau buồn nên đã rời đến làng Parilolayaka, ngự trong hốc cây Vô ưu ở khu rừng Rakkittavana và thuyết pháp. Nơi đây, đức Phật đã được con bạch tượng Parilayaka chăm sóc rất chu đáo.

Hạ thứ mười một

Đức Phật nhập hạ tại nhà của một Bà la môn tên là Ekkamala sống ở vùng nông thôn Dhakkhinakhiri. Tại đây, ngài đã thuyết pháp bài kinh Kasibharadhavasa để tế độ cho một người nông dân tên là Kasibharadhavasa.

Hạ thứ mười hai

Đức Phật nhập hạ dưới một cái cây ở Pucimutdhapeuk, gần thành Verasa. Trong lần nhập hạ này, Ngài đã đề ra giới luật đối với tỳ khưu.

Hạ thứ mười ba

Đức Phật nhập hạ tại Cariyabanphot và được đức Mekhiya chăm sóc. Đức Phật đã tế độ cho đức Kekhiya bằng kinh Mekhiya cho đến khi đắc quả A la hán.

Hạ thứ mười bốn

Đức Phật nhập hạ ở tịnh xá Settavanna Maha. Tại đây, sư tiểu La hầu đã được phong làm tỳ khưu.

Hạ thứ mười lăm

Đức Phật đến Nikhodharam gần thành Ka tỳ la vệ để thuyết pháp. Tại đây, đức vua Thiện Giác (Souppaput) đã ra lệnh chặn tất cả các ngả đường để đức Phật không thể đi qua.

Hạ thứ mười sáu

Đức Phật ngự tại thành Avaly ở Akkharavajedy. Tại đây, Ngài đã tế độ cho một nhóm Saravokyaksa (dạ xoa). Trong hạ này, đức Phật đã thuyết các bài pháp như Aravok Sutra, Nikkhan Sutra, Hatthaka Sutra và Vankhysa Sutra.

Hạ thứ mười bảy

Đức Phật ngự tại thành Vương Xá

Hạ thứ mười tám

Đức Phật nhập hạ ở Cariyabanhpot. Tại đây, Ngài đã thuyết pháp cho con gái của một người thợ dệt thành Aravy và cô gái này đã đắc quả Tu đà hườn.

Hạ thứ mười chín

Đức Phật tiếp tục thuyết pháp ở Cariyabanphot.

Hạ thứ hai mươi

Đức Phật nhập hạ ở thành Vương Xá và đã phong cho Tôn giả Anonh là đệ tử hầu cận . Trong khi ngự tại đây, đức Phật đã thuyết pháp Sacca Dhamma độ Ongkulimal, ông này đã đắc quả và xin được xuất gia cửa Phật.

Hạ thứ 21-34

Đức Phật ngự tại Tịnh xá Kỳ Viên (Settavanna) và Bupharama ở thành Thất La Phiệt (Savatdhy). Lúc này đức Devadhat đang âm mưu phá hoà hợp Tăng, chia rẽ nội bộ.

 

 

 

Devadhat gây chia rẽ Tăng chúng
Hạ thứ 35-36

Vì những đóng góp to lớn cho nhà Phật và lòng tôn kính tột bực đối với đức Phật nên Tôn giả Anonh đã được chọn làm đệ tử đệ tử hầu cận của Phật ở tuổi 55. Đức Phật còn có một người em họ nữa cũng xuất gia cùng ngày với Tôn giả Anonh, nhưng tính tình lại trái ngược hoàn toàn với Anonh. Đó là Devadhat. Trước đây khi còn nhỏ, thái tử Tất Đạt Đa và thái tử Devadhat đã đôi ba lần đụng độ, lần thứ nhất là giành nhau một con thiên nga và lần thứ hai là đọ tài cao thấp để cưới nàng Gia Du Đà La. Tính tình của Devadhat rất ưa ganh tị, lúc nào cũng muốn đối đầu với đức Phật. Trong đầu y luôn mưu toan chuyện chia rẽ Tăng chúng thành hai phe để có thể đứng đầu một phe. Thật đúng là "gieo nhân nào thì gặp quả ấy."

 

 

 

Devadhat tìm mọi cách lôi kéo con trai của vua Tần Bà Sa La

Devadhat luôn nghĩ rằng mình rất đáng được trọng vọng vì dù sao cũng là một vị thái tử thuộc dòng tộc Thích ca. Bởi vậy, y rất thất vọng và căm tức khi đại đức Mokkhanla và Salybouth mặc dù không xuất thân từ hoàng tộc nhưng vẫn được phong là những đệ tử ưu tú. Do lòng đố kị như vậy nên Devadhat đã lén ra khỏi Tịnh xá đến thành Vương Xá hòng tạo mối thân tình với thái tử Asartsattrou, con trai đức vua Tần Bà Sa La. Sau khi giương oai bằng mấy phép thần thông, y ngay lập tức đã chiếm được lòng tin của thái tử Asartsattrou và sau đó, được thái tử dâng tặng một ngôi đền rất đẹp. Đúng như câu nói "Tài giỏi mấy cũng chưa chắc cứu giúp được bản thân, bởi vậy con người không bao giờ được phép nghĩ mình giỏi hơn người khác mà tỏ ra khinh thường người khác, phải luôn luôn ý thức rõ về bản thân, ấy mới là người khôn".

 

 

Devadhat xin tách khỏi Đức Phật

Khi đức Phật trở về thành Vương Xá và ngự tại Tịnh xá Trúc Lâm, Devadhat đã xin đức Phật được tách ra để thành lập một Tăng đoàn khác. Đức Phật liền từ chối và chỉ ra những hậu hoạ của hành động này. Nhưng Devadhat rất tự tin vào bản thân mình và vẫn quyết tâm tiến hành việc chia tách bất chấp sự từ chối của đức Phật. Devadhat được thái tử Asartsatrou hậu thuẫn mạnh mẽ, nhưng đức vua Tần Bà Sa La lại phản đối gay gắt. Ngài không muốn kết giao với hạng người như Devadhat mà vẫn một lòng ủng hộ và tôn kính đức Phật. Bị đức vua Tần Bà Sa La từ chối thẳng thừng, Devadhat bèn âm mưu mượn bàn tay của thái tử Asartsattrou hòng giết hại ngài. “Gieo gió thì gặt bão. Thời gian sẽ trả lời”.

 

Devadhat khuyến khích thái tử
Asartsattrou chiếm đoạt ngai vàng

Devadhat dùng mọi thủ đoạn hòng chiếm lấy niềm tin của thái tử Asartsattrou, và y đã thành công. Devadhat từ từ xúi bẩy thái tử Asartsattrou hành thích cha mình để chiếm lấy ngôi vua, có như vậy âm mưu thiết lập một Tăng đoàn khác của hắn mới thành công. Thái tử Asartsattrou đồng ý ngay, không hề ngần ngại. Y đã dấy quân phản loạn chống lại cha mình, rồi bắt giam ngài vào ngục và tự xưng hoàng đế. Vua Tần bà sa la bị tống vào ngục, phải chịu nhiều kiểu cực hình như bị bỏ đói, bấm móng tay vào đùi cho đến chết. Cuộc nổi loạn diễn ra vào hạ thứ 37 của đức Phật. Đúng như câu nói xa xưa: “Thành tâm cúng bái thì sẽ được hưởng hạnh phúc, an tịnh, nhưng ngược lại, nếu cúng bái với ý định toan tính trục lợi thì sẽ phải chịu khổ đau đến hết đời”.

 

 

Thuê người sát hại Đức Phật

Vậy là Devadhat đã có đủ mọi điều kiện cần thiết để thành lập Tăng đoàn khác. Y đã có được hậu thuẫn mù quáng từ vị vua mới. Devadhat gợi ý vị vua trẻ này thuê một số tên xạ thủ thật giỏi đi mưu sát đức Phật. Mọi việc đã được sắp xếp đâu vào đấy, nhưng khi những tên xạ thủ tận mắt chứng kiến cảnh tượng đức Phật giảng đạo thì không ai bảo ai đều chạy ra khỏi chỗ nấp, quỳ trước đức Phật mà thuật hết mọi chuyện. Vì chúng không biết sự thật nên Ngài đã xá tội và bảo chúng hãy qui y Phật, từ bỏ việc xấu. Một câu tục ngữ trong tiếng Phạn nói rằng “Dhamma chinh phục được Adhamma, Dhamma là nguồn gốc của mọi niềm hạnh phúc, đối với tất cả mọi người”

 

 

 

Devadhat tự tay sát hại đức Phật

Âm mưu ám sát đức Phật không thành vì những tên thích khách nửa chừng quay ra phản bội và đem hết sự tình kể với đức Phật. Sau sự việc này, Devadhat không nghĩ đến chuyện thuê sát thủ nữa, thay vào đó y sẽ tự mình sát hại Đức Phật. Y quyết định chờ đến tối, rình nấp ngay chân núi, trên đường đức Phật sẽ đi qua rồi thừa cơ hạ sát. Hôm đó, đức Phật đang đi bộ về tịnh xá, không hề lường trước những nguy hiểm đang chờ trước mắt. Devadhat đang nấp ở phía trên cao, lập tức chớp lấy cơ hội. Bất thình lình, hắn đẩy một tảng đá lớn về phía đức Phật, may mắn thay, tảng đá đó lại vỡ vụn ra, một viên nhỏ rơi trúng chân của đức Phật làm xây xước nhẹ. Ngoài ra không có xây sát gì thêm. Đức Phật gắng hết sức trở về Tịnh xá một cách an toàn và được một thần y tên là Sivokkomarapat chữa trị. “Nếu một người vì hạnh phúc của mình có ý định cướp đi mạng sống của người khác thì đó là hạnh động của kẻ ác tâm, không biết liêm sỉ, là hành động của một con ác thú. Những người khôn ngoan, có từ tâm không khi nào làm những chuyện như vậy.”

 

 

 

Kế hoạch mượn voi dữ để sát hại đức Phật

Âm mưu ám sát đức Phật lần thứ hai thất bại, nhưng Devadhat vẫn không từ bỏ ý định. Lần này, y có ý định sẽ dùng voi Naragiling đang trong giai đoạn động đực làm công cụ. Y sẽ thả xổng con voi khi đức Phật đi khất thực ngang qua. Mọi việc đã sẵn sàng. Hôm đó, khi đức Phật đang khất thực ở trong thành, Devadhat liền thả voi ra. Con voi tỏ vẻ rất hung hăng dữ tợn, xông thẳng tới đức Phật. Nhưng khi voi trông thấy đức Phật, bỗng dừng ngay lại, từ từ bước tới, ngoan ngoãn quì trước đấng từ bi. Một lần nữa, kế hoạch lại thất bại, Devadhat đành đau đớn từ bỏ kế hoạch ám sát đức Phật, nhưng y vẫn cố nhen nhóm mâu thuẫn trong Tăng chúng.

 

 

 

Điều luật dành cho tăng chúng
- đề xuất của Devadhat

Devadhat luôn cho rằng mình luyện tập đạo pháp chăm chỉ hơn cả đức Phật nên đã xin được vào vấn an đức Phật và vờ như chưa có chuyện gì xảy ra. Devadhat cầu xin đức Phật hãy định ra các điều luật cấm dành cho chư vị tỳ khưu giống như các giáo phái khác. Chẳng hạn như tỳ khưu không nên sống trong nhà có mái che mà nên sống trong rừng, dưới gốc cây hoặc ngoài trời, không nên ăn động vật các loại, mà chỉ nên ăn các loại ngũ cốc và rau quả. Đức Phật đã từ chối lời đề nghị này của Devadhat.

 

Lời dạy của Đức Phật với tăng chúng

Đức Phật từ chối lời đề nghị của Devadhat trước các môn đệ và nói “Này các tỳ khưu, vị nào thích cư ngụ trong rừng, dưới gốc cây hay ở ngoài trời thì cứ ở. Nói cách khác, tỳ khưu nào thích ở trong nhà thì cứ ở.” Về những vấn đề khác, đức Phật cũng dạy như vậy. Chẳng hạn, tỳ khưu nào thích khất thực thì cứ khất thực, thích mặc y vàng lượm từ vải rách hay vải ngoài nghĩa địa cứ mặc, muốn ăn ngũ cốc chứ không ăn động vật thì cứ ăn. Nhưng ngược lại, vị nào không muốn làm theo thì cứ việc làm theo cách của họ. Sau đó, Ngài nhắc nhở Devadhat hãy thôi ngay ý định chia rẽ tăng chúng nếu không sẽ gặp hoạ. Những điều này đã được ghi lại trong luật giới đối với các tỳ khưu ở Parasika thứ tư .

 

Devadhat với kế hoạch thành lập nhóm tăng chúng mới

Devadhat không chịu nghe lời khuyên giải của đức Phật. Y tức giận ra về rồi sau đó dụ dỗ một số tỳ khưu theo y đến một vùng quê thành lập Tăng đoàn khác và tự xưng là Trưởng phái. Được biết về những việc mà Devadhat đã làm đức Phật liền phái đại đức Salybouth đến nơi cư ngụ của Devadhat để thuật hết sự tình cho các vị tỳ khưu đó. Đại đức nghe lời đến chỗ của Devadhat, đúng lúc y đang nằm nghỉ. Đại đức liền thuật lại thực ý của đức Phật và kể rõ những hành động xấu xa trước đây của Devadhat cho các vị tỳ khưu nghe. Cuối cùng tất cả các vị tỳ khưu này đã theo đức Salybouth trở về với Chính pháp. Vậy là ý định thành lập Tăng đoàn khác của Devadhat đã không thành.

 

 

Cái chết của Devadhat

Khi Devadhat thức giấc, y nhận thấy xung quanh quá tĩnh lặng, không thấy bóng dáng một vị tỳ khưu nào từng theo y trước đây. Ngay lập tức y hiểu ra rằng chính đại đức Salybouth đã đến nơi đây và tìm cách lôi kéo các vị tỳ khưu trở về với đức Phật. Devadhat giận điên người chỉ muốn trả thù, nhưng vì sức lực đã yếu dần nên y phải nhờ hai tên đồ đệ khiêng hắn bằng cáng đến Tịnh xá nơi đức Phật đang ngự để hỏi cho ra nhẽ về số tỳ khưu đã bỏ hắn trở về cùng với đại đức Salybouth. Trên đường đến gặp đức Phật, vì những hành động xấu xa trong quá khứ cùng với âm mưu gây chia rẽ tăng chúng, Devadhat đã bị lún chìm xuống vùng cát lún.

 

 

 

Nỗi lo sợ của các Tỳ khưu và môn đệ cho sự an nguy của đức Phật

Khi các môn đệ hay tin Devadhat đang trên đường đến gặp đức Phật, họ rất lo sợ cho an nguy của đức Phật, bèn cầu xin ngài hãy tạm tránh mặt. Nhưng đức Phật không hề lo sợ và bảo với các môn đệ rằng không bao giờ Devadhat có thể làm hại được đức Phật. Quả nhiên những điều mà đức Phật nói đều đúng cả vì sau đó họ được biết rằng Devadhat đã chết trên đường đến nơi Phật ngự. Cái chết của Devadhat khó có thể tưởng tượng nổi. Chiếc cáng mà hắn nằm đã bị cát lún nhấn chìm. Sau khi Devadhat chết, không còn cảnh xích mích phân chia bè phái trong tăng chúng nữa. Đó cũng là nhờ tấm lòng nhân hậu và Ba la mật mà đức Phật đã tu tích trong quá khứ nên ngài có thể khuất khục được cái ác.

 

Sự nghiệp giáo hoá của đức Phật từ Hạ 37 - 45

Trong suốt 45 hạ, đức Phật đã giảng đạo và tế độ chúng sinh mà không hề nghỉ ngơi cho đến khi ngài nhập Niết bàn. Đức Phật đi tế độ chúng sinh trên khắp cõi Ấn Độ chỉ trên đôi chân trần mà không bao giờ dùng đến một loại phương tiện nào cho dù quãng đường có xa đến mấy, và sống bằng khất thực. Điều này cho thấy đức Phật phải gánh một trọng trách trên vai là cứu giúp ba phần tư chúng sinh trên khắp cõi thế gian thoát khỏi khổ đau, và ngài thấy hài lòng với những gì đã làm. Có thể tóm tắt những thành tựu mà đức Phật đã làm được trong 45 hạ: thứ nhất, ngài đã thu nạp được các Trưởng phái của một số giáo phái, chẳng hạn như ba anh em phái Satil (ngài đã mất đến hơn hai tháng mới quy phục được Kassapa); thứ hai, ngài đã thuyết pháp cho đức vua Tần Bà Sa La, người trị vì vương quốc Ma Kiệt Đà (Makkhadha), là một trong những đức vua nắm trong tay nhiều quyền lực nhất khu vực lúc bấy giờ. Sự tin tưởng mà các quốc vương và những trưởng phái dành cho đức Phật đã chứng tỏ rằng thời ấy, Phật giáo đã lan nhanh trong xứ Ma Kiệt Đà, lấn át hẳn đạo Bà La Môn. Một khi các trưởng phái đi theo đạo Phật giáo thì lẽ dĩ nhiên các môn đệ của giáo phái đó cũng đi theo.

 

Nhập hạ trên thượng giới, ở
cõi trời Đạo Lợi tế độ Phật mẫu

Sau khi sinh thái tử Tất Đạt Đa, phật mẫu Si ri Maha Mada đã qua đời và được tái sinh tại cõi trời Đạo Lợi. Đức Phật đã sử dụng phép thần thông bay lên cõi trời nhập hạ. Ngài ngự trên bảo toạ bằng đá, trên phủ thảm đỏ được đặt dưới một gốc cây. Thiên vương Đế Thích (Indra), nghe tin đức Phật sẽ ngự lên cõi Trời, đã thông báo cho Chư Thiên, Phạm Thiên, trong đó có cả phật mẫu Siri Maha Maya, đến nghe ngài thuyết pháp. Các vị trên cõi trời đều hân hoan đến nghe giảng đạo. Trong hạ này, phật mẫu Siri Maha Maya đã đắc quả Tu đà huờn.

 

 

Ngự về trần gian sau lễ nhập hạ

Theo truyền thống, dấu chân mà đức Phật để lại khi ngự về cõi nhân gian sau khi thuyết pháp xong ở cõi trời được gọi là dấu chân Phật. Ở một số nơi, người ta còn gọi là “Jom Jedy”. Nói chung cả hai đều được coi là thánh tích quan trọng của đức Phật cho tới ngày nay. Khi đức Phật ngự xuống trần gian, có ba chiếc thang, một cái bằng vàng, một cái bằng bạc, cái còn lại làm bằng pha lê. Chiếc thang bằng vàng dành cho Đế Thích và Chư Thiên, chiếc bằng bạc dành cho Thao Maha Bhromma cùng Chư Thiên. Chiếc thang bằng pha lê dành cho đức Phật. Các thần cùng bước theo đức Phật ngự xuống hạ giới. Ngày này trong đạo Phật được coi là một trong những ngày quan trọng nhất cho đến ngày nay.

 

Dùng phép mở ra tam giới: Âm phủ, Thượng giới và Hạ giới

Vào thời điểm đức Phật ngự xuống hạ giới, ngài đã dùng phép thần thông liền một lúc mở ra tam giới là Thượng giới, Âm phủ, và Hạ giới cho chúng sinh dưới trần gian được trông thấy tận mắt sự tồn tại của Thiên đình và Âm phủ để biết đường mà tu tích công đức, tránh tạo nghiệp ác. Tuy nhiên, chúng ta đều nên hiểu rằng tích đức và làm việc tốt thì cực kỳ khó còn tạo nghiệp ác thì rất dễ. Điều này làm ta liên tưởng đến một câu nói cổ xưa ngụ ý là “đường lên thượng giới chông gai, đường xuống âm phủ trơn tru vô cùng”

 

Đức Phật nhập hạ tại rừng Lelai

Đã có lúc xảy ra mâu thuẫn trong tăng chúng khiến tăng chúng chia thành hai phe, không phe nào chịu phe nào, và cũng không chịu nghe lời khuyên bảo của đức Phật. Bởi vậy ngài đã quyết định bỏ đi, nhập hạ tại một khu rừng và tế độ cho bạch tượng và khỉ. Khi đức Phật đã bỏ đi, dân chúng thành Kossamby đã không cúng dường cho chư tăng nữa vì họ nghĩ rằng chính sự xích mích trong tăng chúng đã khiến đức Phật phải bỏ đi nhập hạ ở nơi khác. Có một con khỉ trông thấy bạch tượng ngày ngày dâng hoa quả lên đức Phật, nó cũng liền đi lấy một tổ ong mang đến dâng mời ngài. Đức Phật thọ lĩnh tổ ong, nhưng không ăn. Thấy vậy, con khỉ lấy làm ngạc nhiên không hiểu tại sao đức Phật lại không ăn tổ ong của nó. Nó liền xin lại tổ ong, nhặt hết ong non ra khỏi tổ rồi dâng lại cho đức Phật.

 

Đức Phật nhận sự chăm sóc của Voi và Khỉ ở rừng Lelai.

Con khỉ trở ra và trèo lên cây quan sát đức Phật. Thấy ngài ăn mật ong, nó vô cùng sung sướng, nhảy từ cành này sang cành khác. Nhưng không may, nó lại bị trượt chân, rơi xuống một thân cây, bị cành nhọn đâm trúng người chết tươi.

Sau khi đức Phật làm lễ ra hạ, tăng chúng mới nhận ra lỗi lầm, họ bèn vào rừng cầu xin đức Phật trở về. Khi đức Phật chuẩn bị rời khỏi rừng, con voi toan đi theo Ngài đến sống trong thành. Nhưng đức Phật bảo voi ở lại vì nó chỉ là một con vật, không thể chung sống cùng người trong thành được. Voi nghe lời ở lại, đứng trông theo cho đến khi đức Phật khuất bóng. Bỗng nhiên, nó bị một cơn đau tim, ngã vật ra rồi chết. Cả voi và khỉ, vì đều có công với đức Phật nên đã được tái sinh thành kiếp khác sống trên cõi trời Đạo Lợi.

 

Khất thực để độ chúng sinh

Trong suốt mùa mưa, đức Phật thường nhập hạ tại các tịnh xá do phật tử dâng tặng. Đức Phật không khi nào giữ riêng các tịnh xá cho mình mà giao lại cho Tăng chúng. Tịnh xá mà Ngài ưa thích hơn cả là tịnh xá Kỳ Viên, gần thành Vương Xá, do cự phú Anathaphinatikka dâng tặng. Đức Phật đã ngự ở đây tổng cộng là mười chín năm. Tiếp đó là tịnh xá Trúc lâm do vua Tần bà sa la dâng tặng. Đức Phật gần như dành trọn ngày để giảng đạo và mỗi ngày chỉ ngủ một giờ.

Sáng sớm: Ngồi thiền trong một canh giờ

5.00 – 6.00 sáng: Dùng huệ nhãn soi xem có chúng sinh nào cần đến sự giúp đỡ, tế độ của Ngài

6.00 – trưa: Ngự đi khất thực và tế độ chúng sinh. Đôi khi Ngài dẫn theo Tôn giả Anonh cùng đi khất thực. Có nhiều lúc, trong khi đang đi khất thực, ngài được các tín chủ mời đến nhà nhận đồ cúng dường và thuyết pháp tế độ cho các thành viên trong gia đình đó.

Trưa – 6.00 chiều: Thuyết pháp cho các môn đệ muốn thỉnh cầu lời khuyên và chỉ dẫn của Ngài, sau đó nghỉ ngơi, thiền định và đến thăm những người cần sự giúp đỡ của Ngài, tế độ và chỉ cho họ con đường chân chính đến với an vui hạnh phúc.

6.00 – 10.00 tối: Ngự thăm các tín chủ muốn thỉnh cầu lời khuyên, chỉ dẫn của Ngài và muốn được nghe Ngài thuyết pháp.

10.00 – 2.00 sáng: Ngự thăm Chư Thiên, Phạm Thiên, những vị muốn nghe Ngài giảng Pháp mới và thuyết về cách sống chân chính.

2.00 – 4.00 sáng: Đi kinh hành để xả bớt những vất vả, lo lắng trong ngày, rồi sau đó nghỉ ngơi trong một canh giờ.

Nhiệm vụ đi tế độ cho chúng sinh của đức Phật nhiều vô kể, người thường khó mà làm được. Trong suốt bốn mươi nhăm hạ, ngày nào cũng vậy, đức Phật chỉ ngủ có một canh giờ.

Vì lòng từ bi với chúng sinh, mỗi giờ đức Phật lại dùng huệ nhãn soi xem có ai cần đến sự giúp đỡ, Ngài sẽ đến tế độ cho họ, không phân biệt kẻ giàu người nghèo, để họ được sống trong yên vui hạnh phúc.

 

Ngự thăm theo lời thỉnh cầu của các phật tử

Phần lớn thời gian đức Phật cùng chư tăng đến thăm các phật tử theo lời thỉnh cầu của họ, nhận đồ bố thí cúng dường rồi thọ thực ngay tại nhà của họ. Sau đó, đức Phật sẽ thuyết pháp và hướng họ sống một cuộc sống đức hạnh, năng làm những việc hữu ích cho kiếp sống hiện tại và cả kiếp sau. Các tín chủ đều lấy làm ngưỡng mộ giáo pháp của ngài, nguyện làm môn đệ nhà Phật và xin được thọ Tam quy là qui y Phật, qui y Pháp và qui y Tăng.

 

Giáo huấn chư Tỳ khưu

Đôi khi, trong khi chư tăng đang thọ lễ cúng dường, đức Phật sẽ ngự thiền dưới một gốc cây không xa nơi đó. Ngài sẽ chỉ trở lại khi chư tăng đã thọ lĩnh xong. Trong suốt buổi hội họp, đức Phật sẽ cố gắng giải đáp những thắc mắc cá nhân của tăng chúng và khuyên họ nên tu trì giới để đạt được mục đích cuối cùng là lên được cõi Niết bàn.

 

Những thắc mắc của Tỳ khưu

Thông thường sau mỗi lần giáo huấn, các tỳ khưu sẽ đưa ra những thắc mắc, dựa vào đó, đức Phật sẽ thuyết cho tỳ khưu các bài pháp thích hợp. Đức Phật sẽ phân tích các câu hỏi và chỉ ra những trở ngại đối với riêng tỳ khưu ấy rồi chọn ra một bài pháp phù hợp, dựa vào trình độ tu học của mỗi người để giảng giải cho tỳ khưu ấy hiểu. Sau đó, các tỳ khưu lại tỏa ra mỗi người một nơi tiếp tục tu luyện, có thể là dưới gốc cây, trong hang động hay trong túp lều. Còn đức Phật sẽ ngự về tịnh xá riêng của Ngài.

 

 

 

Thuyết pháp và tế độ chúng sinh

Trong suốt mùa hè, đức Phật mỗi lúc ngự một nơi ở những vùng lân cận để gặp gỡ những tín đồ muốn nghe Ngài thuyết pháp. Một số ngưòi đến vào buổi sáng, đa số còn lại thường đến vào buổi chiều. Một số đến có mang theo đồ cúng dường, một số đến đơn thuần chỉ để nghe đức Phật giảng đạo. Tất cả các phật tử đều đến nghe đức Phật thuyết pháp với tâm trạng vui sướng hân hoan, không phân biệt giai cấp, trình độ hiểu biết, họ ngồi nghe cho đến khi hiểu được đạo pháp. Nhiều người còn có cảm tưởng rằng bài Pháp của đức Phật đặc biệt hướng về mình , và sau khi nghe giáo pháp, họ đều phát tâm tín thành nơi đức Phật.

 

Việc tắm của đức Phật

Khi các phật tử ra về, đến tối đức Phật sẽ đến một cái hồ nhỏ hay một dòng sông và tắm ở đó. Sau khi tắm xong, đức Phật sẽ ngồi thiền một lúc trước khi đi gặp các môn đệ hiện đang rải rác ở khắp nơi. Tại đó, với mỗi khúc mắc của các tỳ khưu, ngài sẽ đưa ra hướng giải quyết cho đến khi họ thấy thoả mãn.

 

 

Tế độ các Quốc vương cùng quần thần

Khi đức Phật cảm thấy hơi mệt, ngài sẽ ngự thiền ở đâu đó trong tịnh xá để thư giãn. Ngay khi sự mệt mỏi đã giảm bớt, ngài sẽ đến gặp nhanh chư tỳ khưu trước khi tiếp kiến các vị vua chúa và quan lại. Đức Phật sẽ truyền pháp cho các vị này và giải đáp mọi thắc mắc cho đến khi ai nấy đều vui vẻ trở về.

 

 

Bốn tư thế thiền của Đức Phật: đi - đứng - ngồi - nằm

Sau khi thuyết pháp xong, đức Phật thường thư giãn bằng cách hành thiền theo tư thế nằm, còn gọi là nằm thiền theo dáng sư tử. Ngài nằm dài nghiêng về bên phải, hai mũi chân đặt lên nhau, cánh tay trái duỗi thẳng dọc theo cơ thể, tay phải gập ở khuỷu tay, lòng bàn tay đặt phía dưới đầu để có thể tỉnh giấc đúng giờ. Đức Phật sẽ tỉnh giấc vào sáng sớm và lại bắt đầu với một lịch trình thiền định để soi xem trong ngày hôm đó, ai có duyên lành được nghe ngài thuyết pháp. Tựu chung lại đức Phật có tất cả là bốn tư thế thiền.

 

Đức Phật từ bi với tất cả chúng sinh

Trong suốt 45 hạ, đức Phật đã thực hiện bổn phận của mình đều đặn mỗi ngày là đi giảng giải và tế độ cho tất cả chúng sinh. Đức Phật không chỉ giảng đạo mà còn giúp chúng sinh tháo gỡ những khúc mắc trong đời sống hàng ngày nhờ vào kiến thức uyên thâm và trí thông minh tột bực. Việc nào đức Phật cũng đều giải quyết chu đáo. Đức Phật luôn cố gắng làm vừa lòng tất cả chúng sinh mà ngài gặp trên đường đi, không phân biệt cao thấp sang hèn, cho dù đó là nông dân, nhà buôn hay quan lại.

 

Đức Phật soi sáng cho chúng
sinh và những kẻ tìm đến với Pháp đế

Dường như không có khúc mắc nào đức Phật không đưa ra được hướng giải quyết. Đức Phật chưa bao giờ khiến chúng sinh phải thất vọng ra về. Giọng đức Phât nghe rất ấm áp khi giảng đạo, khiến ai ai cũng cảm thấy hạnh phúc và hài lòng khi tìm đến với ngài. Đôi khi, có một số kẻ ngoại đạo tìm đến gây hiềm khích, nhưng họ đều phải chịu khuất phục trước trí tuệ và kiến thức siêu phàm của đức Phật. Nhiều kẻ trong số họ đã bỏ đạo cũ, xin xuất gia cửa Phật cho đến trọn cuộc đời. “Đạo pháp mang lại hạnh phúc cho mọi người.”

 

Tìm nơi nhập Niết bàn

Trong suốt hạ thứ 44, hai đại đồ đệ thân cận nhất của đức Phật là đại đức Mokkhanla và đại đức Salybouth đã nhập Niết bàn. Đức Phật thấy rằng đã đến lúc ngài nhập Diệt. Vào hạ thứ bốn mươi nhăm, đức Phật tròn 80 tuổi. Ngài nghĩ rằng việc truyền dạy Pháp tứ đế đã đến lúc phải kết thúc vì tin rằng ngài không còn tại thế được bao lâu nữa. Đức Phật nhìn về hướng Bắc, dọc theo chân dãy Himmalayan, đây là nơi ngài đã sống khi còn trẻ, nơi ngài tìm kiếm những chân lý cao siêu. Đức Phật cùng với Tôn giả Anonh và các môn đệ rời tịnh xá Trúc lâm, đến một nơi mà ngài đã chọn để nhập Niết bàn.

 

 

Ngự đến nơi nhập Niết bàn

Trên đường đến nơi nhập diệt, đức Phật đã đi qua rất nhiều làng bản, trong đó có làng Pataribouth (nay là Patna ). Đức Phật đi về hướng bắc, qua thành Vesaly ở xứ Vassy. Khi đến thành Vesaly, có một kỹ nữ tên là Umphapaly muốn dâng tặng một tịnh xá lên đức Phật. Tịnh xá này được xây lên để đối chọi với các thái tử trong thành. Sau đó, đức Phật đã đến làng Veruvakarm ngay gần thành Vesaly và quyết định ngự tạm nơi đây. Ngài biết việc ngự lại nơi đây ý nghĩa hết sức quan trọng.

 

Đức Phật đổ bệnh nặng

Trong hạ này, sức khoẻ của đức Phật đã rất suy yếu, tưởng như không thể nhập được Niết bàn. Nhưng sau đó, đức Phật đã hành thiền Cetosa để chế ngự bệnh ấy. Khi đã cảm thấy khoẻ hơn, đức Phật đến ngồi nghỉ ở dưới bóng cây của một tịnh xá, trên một cái nệm mà Tôn giả Anonh đã chuẩn bị sẵn cho Ngài. Tôn giả Anonh đã nhân cơ hội này nói với đức Phật rằng ông cảm thấy vui sướng thế nào khi sức khoẻ đức Phật đang dần hồi phục, rằng khi thấy đức Phật lâm trọng bệnh, tâm trí ông hết sức rối bời, không thể tập trung làm bất cứ điều gì. Nhưng ông tin chắc rằng chừng nào đức Phật vẫn chưa chỉ dạy những quy tắc cư xử cho chư tỳ khưu thì vẫn chưa phải lúc đức Phật nhập Niết bàn.

 

 

 

Hạ thứ 45 của đức Phật

Đức Phật đã tuyên bố đạo pháp được 45 năm và lúc này đức Phật đã tròn 80 tuổi. Trong hạ thứ 45 tại Verukham, đức Phật cảm thấy không yên tâm về Tôn giả Anonh vì Anonh vẫn chưa đắc quả A la hán. Một hôm, đức Phật dẫn Tôn giả Anonh đến gần một khu rừng và thuyết cho nghe bài kinh “Obhasamnimitta Indhibathsi” (bài kinh này gồm có bốn pháp, bất cứ ai đắc được bốn pháp này đều có thể sống lâu như ý). Mặc dù đức Phật thuyết pháp đến ba lần nhưng Tôn giả Anonh vẫn không thể hiểu ý của Ngài. Đức Phật đành bảo Tôn giả Anonh bước ra khỏi bóng cây. Tôn giả vừa bước lui thì Ma vương bước vào, thỉnh cầu đức Phật hãy nhập Niết bàn. Đức Phật chấp thuận rồi sau đó nói với Tôn giả Anonh rằng trong ba tháng nữa, tại thành Kushinara, vào ngày rằm tháng Sáu năm Tuất, đức Phật sẽ nhập Niết bàn.

 

Lời dạy của Đức Phật với Tôn giả Anonh

Đức Phật dạy Tôn giả Anonh rằng “Này Anonh, chư tỳ khưu còn trông đợi gì ở ta nữa. Ta đã thuyết rõ ràng mọi luật tạng (Dhamma Vinaya), bao gồm cách ứng xử trong giới tỳ khưu cùng phương pháp tu hành để chư tỳ khưu đắc được các pháp giáo và nhập cõi Niết bàn. Ta không còn giấu giếm một pháp nào mà đã giảng giải cho đệ tử rõ rệt đến tận cùng. Này Anonh, ta đã 80 tuổi, đã già rồi, cuộc sống chỉ còn đếm từng ngày và đã đến lúc ta phải kết thúc mọi chuyện. Chư tỳ khưu hãy nên tự nương nhờ vào bản thân mình chứ không phải ai khác. Hãy coi đạo pháp là “Sarana - điều có thể nương dựa vào” và giữ cho pháp giáo được trong sạch nơi trái tim mà không nhầm lẫn với bất cứ điều gì khác. Chư tỳ khưu nào hành theo đúng đạo pháp thì ắt sẽ đạt được Tuệ và giỏi trội hơn kẻ khác.

 

Đức Phật quyết định nhập Niết bàn

Sáng hôm sau, vào ngày rằm tháng Ba năm Tuất, đức Phật thấy trong người đỡ mệt nên lại cầm bát đi khất thực trong thành Vesaly. Buổi trưa, sau khi thọ thực xong, đức Phật bảo Tôn giả Anonh chuẩn bị một chỗ dưới bóng cây gần ngôi đền Pavarajedy để Ngài hành thiền. Đức Phật đã quyết định nhập diệt vào ngày rằm tháng Sáu năm Tuất (Visakha Day), tính từ ngày này là còn đúng ba tháng nữa.

 

 

 

Tôn giả Anonh cầu xin đức Phật tạm lui ngày nhập Niết bàn

Tôn giả Anonh đôi ba lần cầu xin đức Phật hãy lui lại ngày nhập Niết bàn để có thể tiếp tục tế độ chúng sinh. Đức Phật mới nói “Này Anonh, ta đã tử bỏ Sankhara; những gì ta đã nói, ta sẽ giữ lời. Ba tháng nữa ta sẽ nhập Niết bàn. Hãy để mọi chuyện trôi đi và đừng nghĩ về nó nữa. Giờ ta sẽ đến rừng Saravanna, còn ngươi hãy tập hợp chư tỳ khưu lại nơi đó”. Tôn giả Anonh liền làm những gì mà đức Phật căn dặn.

 

Lời dạy cuối cùng của đức Phật với Chư tỳ khưu

Khi chư tỳ khưu đã hội lại đông đủ, để tỏ rõ tấm lòng nhân hậu và sự quan tâm chân thành đối với họ, đức Phật đã khuyên nhủ chư vị tỳ khưu hãy thọ trì Tứ thanh tịnh giới theo đúng pháp mà đức Phật đã đề ra vì lợi ích của chúng sinh trên thế gian và để làm gương tốt cho chúng sinh noi theo. Đức Phật còn dạy “Không có thứ gì trên thế gian này là vĩnh cửu, không có thứ gì trường tồn mãi mãi - Anitca Vatta Sangkhara - chỉ có sự quyết tâm, sự khổ luyện và chính niệm tỉnh giác mới làm người ta thoát khỏi khổ đau và dứt bỏ luân hồi. Nỗi khổ đau của chúng sinh là vô tận, nếu không hiểu được đau khổ thì làm sao mà giải thoát.”

 

Rời thành Vesaly

Ngày tiếp theo, đức Phật và Tôn giả Anonh đi khất thực trong thành Vesaly lần cuối cùng. Đức Phật nói với Anonh rằng “Này Anonh, đây sẽ là lần cuối ta ngự tại thành Vesaly, sau đây ta sẽ đến làng Patthakham.” Kể từ hôm đó, Ngài rời thành Vesaly, đi qua rất nhiều làng mạc như làng Huttikham, làng Umphakham, làng Sumphukham, dọc đường đi Ngài vẫn tiếp tục thuyết pháp. Khi đến thành Phokha, đức Phật ngự tại Anandha Jedy và thuyết bài pháp về Mahapatesa thứ tư cho chư tỳ khưu, để cân nhắc việc sử dụng nó như là một công cụ để quyết định về Luật tạng. Ngay trước ngày rằm tháng Sáu (một ngày trước khi thời hạn ba tháng kết thúc), đức Phật đến thành Pava và ngự tại vườn xoài của Nai Jundha, con trai người thợ kim hoàn. Đức Phật đã thuyết pháp cho Nai Jundha và ông ta đã đắc quả Tu đà hườn. Ngày hôm sau, đức Phật đã nhận lời thỉnh mời đến thọ thực (dhana) tại nhà ông ta.

 

 

Bữa ăn cuối cùng của đức Phật tại nhà của Jundha

Ngày hôm sau, cũng là ngày rằm tháng Sáu năm Tuất, đức Phật ngự đến nhà Nai Jundha, đây là lần khất thực cuối cùng. Nai Jundha đã cúng dường đức Phật món heo sữa, và ngài đã thọ thực món ấy. Đức Phật căn dặn chư tỳ khưu không được dùng món heo sữa này. Khi đã thọ thực xong, đức Phật ngự về. Trên đường trở về, đức Phật bị kiết lỵ nặng, ngài phải dùng nội thiền để chế ngự bệnh tật.

 

 

Trên đường đi, Đức Phật tế độ Pukkussa

Dọc đường đi đến thành Kushinara, thỉnh thoảng đức Phật dừng lại để nghỉ ngơi. Gần tới nơi, đức Phật ngồi nghỉ dưới một gốc cây và đã gặp thái tử Pukkussa. Thái tử Pukkussa trước đây từng là đồ đệ của Hermit Ara, một trong số các sư phụ của đức Phật khi Ngài còn chưa đắc đạo. Thái tử rời khỏi thành Kushinara và đang trên đường đến thành Pava gặp đức Phật. Thái tử cung kính bái lạy đức Phật và được ngài thuyết giáo về Suntivihara nên chứng ngay sơ quả, trở thành đệ tử của Phật. Thái tử đã cúng dường đức Phật hai bộ y phục và ngài đã thọ lĩnh. Đức Phật bận một bộ, bộ còn lại trao cho Tôn giả Anonh. Sau khi vượt qua sông Kadhudhana, đức Phật dừng lại nghỉ một lúc và sau đó đi tiếp về phía sông Hiranyavady của thành Kushinara.

 

 

Tư thế ngủ của đức Phật

Vào buổi chiều ngày rằm tháng Sáu năm Tuất, đức Phật cùng chư tỳ khưu đã đến được thành Kushinara. Ngài liền đến thẳng rừng cây Vô ưu ở phía ngoài thành. Đức Phật dặn Tôn giả Anonh dọn một hòn đá đặt giữa hai cây Sara để ngài có thể nằm nghỉ (theo tiếng Phạn, tư thế nằm này gọi là Anuttadhasaiyadha, nghĩa là không bao giờ thức dậy nữa). Khi ấy hai cây Sara trổ đầy bông, lạ ở chỗ là mùa này không phải là mùa Sara nở. Hoa Sara trải khắp người Phật, ngài mới dạy Tôn giả rằng “Này Anonh, mặc dù ta đánh giá cao sự cúng dường này, nhưng đây chưa phải là vật cúng dường cao quý nhất. Ta muốn bốn nhóm môn đệ của nhà Phật là tỳ khưu, tỳ khưu ni, thiện nam, tín nữ hành đúng theo lời răn dạy của ta. Ấy mới là cách cúng dường trọng thể và cung kính hơn cả.”

Khi đức Phật đang trong tư thế nằm, ngài tiếp tục thuyết pháp và chỉ dẫn cho Tôn giả Anonh cách chăm sóc cơ thể đức Phật giống như mọi người vẫn chăm sóc cơ thể của hoàng đế.

 

 

Nỗi buồn của Tôn giả Anonh

Đến lúc này, Tôn giả Anonh mới nhận thấy rằng việc đức Phật nhập Niết bàn là điều không còn nghi ngờ gì nữa. Bởi vậy, ngài không cầm được nỗi đau buồn. Tôn giả Anonh đã lẻn ra ngoài, đến một bụi cây gần đó và khóc một mình. Tôn giả vô cùng thất vọng bởi ngài vẫn chưa đắc quả A la hán như các vị tỳ khưu khác nên sẽ phải tu luyện một mình mà không có sự chỉ bảo của đức Phật.

 

 

Đức Phật không thấy Tôn giả Anonh

Khi đức Phật mở mắt, không thấy Anonh đâu, ngài mới hỏi chư tỳ khưu và được biết rằng Anonh đang rất thất vọng và buồn khổ vì Tôn giả vẫn chưa chứng được Phật pháp cao thâm trong khi đức Phật đã sắp nhập Niết bàn. Đức Phật mới truyền gọi Anonh về.

 

 

Đức Phật khen ngợi công lao của Tôn giả Anonh

Khi Tôn giả Anonh trở lại, đức Phật mới khen ngợi Tôn giả Anonh trước mặt chư vị tỳ khưu rằng “Đức Phật trong quá khứ và tương lai đều có được một người hầu cận hết sức tận tụy, nhưng vẫn không thể so sánh được với những gì mà Tôn giả Anonh đã làm trong kiếp sống này. Anonh là đồ đệ hầu cận tốt nhất, thông minh nhất và biết sắp xếp công việc nhất. Anonh biết khi nào là phải lúc cho phép dòng người vào vấn an ta. Anonh luôn niềm nở và tiếp chuyện các vị khách với thái độ chân thành. Tất cả các vị khách đều hài lòng về Tôn giả Anonh và luôn chú ý lắng nghe khi ngài nói. Tôn giả Anonh luôn là người hầu cận thân tín nhất của ta.”

 

 

Thỉnh cầu đức Phật chuyển nơi nhập Niết bàn

Tôn giả Anonh cầu xin đức Phật thay đổi nơi nhập diệt vì cho đây chỉ là một khu rừng ở một thành nhỏ, còn bao nhiêu thành lớn như thành Vương Xá, Thất La Phiệt, Vesaly và nhiều thành khác với hàng ngàn đệ tử và các vị vua chúa sang trọng. Những vị ấy sẽ tổ chức lễ an táng hết sức trang trọng và đầy đủ.

 

Thông báo lễ nhập diệt của đức Phật

Vào buổi chiều muộn ngày rằm tháng Sáu năm Tuất, sau khi thuyết pháp cho chư tỳ khưu, đức Phật biết rằng giờ nhập diệt đã gần kề, ngài mới bảo Tôn giả Anonh hãy thông báo cho đức vua và các vị quan lại cùng chúng đệ tử đến rừng Sara, mang theo hoa nến để đảnh lễ lần cuối.

 

 

Đức vua đau buồn khi nghe tin đức Phật nhập diệt

Khi Tôn giả Anonh thông báo về thời khắc nhập Niết bàn của đức Phật, nhà vua và dân chúng thành Kushinara hết sức đau buồn. Họ không ngớt than khóc vì ngày nhập diệt quá sớm của đấng Đại đạo sư. Từng đoàn người kéo về rừng Sara, nơi đức Phật đang ngự để đảnh lễ lần cuối cùng. Mỗi đoàn sẽ có một người đại diện, lần lượt sẽ lên gặp đức Phật lần cuối.

 

 

Những nghi vấn của Souphatthapariphasok

Souphatthapariphasok nghe tin đức Phật sẽ nhập diệt trong đêm nay. Ông chưa bao giờ nghe hay biết gì về đức Phật, và không tin lại có một người đạt Chánh đẳng Chánh giác mà không cần đến sự chỉ bảo của ai. Ông quyết phải đến gặp đức Phật để làm rõ những nghi vấn trước khi ngài nhập diệt, nếu không cả cuộc đời ông sẽ phải hối tiếc. Ông đi đến rừng Sara và chứng kiến cảnh bao ngưòi đang đứng chờ để được vào vấn an đức Phật. Ông cố len vào nhưng đã bị Tôn giả Anonh cản lại vì đã đến giờ đức Phật nhập diệt.

 

 

Souphatthapariphasok nài xin được vào vấn an đức Phật

Mặc dù Souphatthapariphasok bị đẩy lại, nhưng ông không từ bỏ ý định và cố van xin được vào gặp đức Phật. Đức Phật hay tin Souphatthapariphasok vừa từ xa đến đây, mong được nghe ngài thuyết pháp, bởi vậy ngài bảo Tôn giả Anonh hãy cho phép Souphatthapariphasok vào. Khi được vào vấn an đức Phật, ông đảnh lễ trước đức Phật rồi hỏi như sau:

“Sáu vị đạo sư (Guru) là:

  1. Puranakaspa
  2. Muglikosal
  3. Asittaketkamphol
  4. Pakukhakiccayana
  5. Sunsivelattadhabouth
  6. Nikharanthanatabouth - Tất cả các vị ấy đã đắc quả A la hán chưa?'

Đức Phật nhắc lại câu hỏi rồi trả lời rằng “ Mugga có 8 nhân tố, điều này không có trong pháp giáo . Bốn loại tâm siêu thế là: 1 – Phra Sotapanna (tu đà hườn quả là sa môn hạng dự lưu hay hạng sơ khởi), 2 - Phra Sakadhagamy (tư đà hàm quả là sa môn bậc nhì), 3 – Phra Anagami (a na hàm là sa môn bậc ba), 4 – Phra Arahanta (A la hán là người đã đạt được cõi niết bàn).

 

Souphatthapariphasok xin được xuất gia

Souphatthapariphasok vô cùng hài lòng với câu trả lời của đức Phật. Ông đã hiểu được đạo pháp và chứng ngay sơ quả. Ông xin được thụ phong nhưng đức Phật dạy rằng Souphatthapariphasok nên học “Parivassakamma” trong bốn năm vì ông là người ngoại đạo. Souphatthapariphasok đồng ý. Sau đó, đức Phật bảo Tôn giả Anonh truyền thụ giới tỳ khưu cho Souphatthapariphasok thật nhanh rồi dẫn Souphatthapariphasok vào để đức Phật làm lễ tế độ theo phương pháp Ehi Bikkhu.

 

Tỳ khưu Souphatthapariphasok – Môn đệ cuối cùng của đức Phật

Đức phật đã chỉ dạy Kammatthana (cách thức thiền định) để tỳ khưu Souphatthapariphasok luyện tập như sau:

Kesa Loma Nakha Dhanta Taco

Taco Dhanta Nakha Loma Kesa

Kesa Loma Nakha Dhanta Taco

Mới bắt đầu thực hành, tỳ khưu Souphatthapariphasok đã đắc ngay quả A la hán.

Tỳ khưu Souphatthapariphasok là môn đệ cuối cùng của đức Phật và là vị A la hán cuối cùng của Phật giáo. Điều này cho thấy đức Phật đã hoàn thành sứ mệnh đến phút cuối cùng của cuộc đời.

 

Lời dạy cuối cùng của đức Phật

Đức Phật đã dặn dò những lời cuối cùng với môn đệ rằng “Sau khi nhập Niết bàn, pháp và luật mà ta đã dạy sẽ là đạo sư của các ngươi, không bao giờ được phép dễ duôi vì Sankhara là vô thường rồi sẽ tan biến. Các ngươi nên hành đạo để giúp ích cho người khác và cho chính bản thân mình.” Sau khi nói những lời này, đức Phật nhập Niết bàn, lúc đó là canh cuối của đêm rằm tháng Sáu năm Tuất.

Điều này cho thấy đức Phật đã gánh vác trọng trách trên vai trong suốt 45 năm không hề nghỉ ngơi cho đến giờ phút cuối cùng trước khi nhập Niết bàn. Đức Phật đã để lại Giáo pháp vô cùng quý giá cho chúng sinh trên toàn thế giới để hành theo. Chúc cho tất cả các bạn đều có thể hành theo Giáo Pháp của đức Phật. Sadhu Anumodhami.

 

Đức Phật nhập diệt

Đức Phật nhập diệt tuần tự theo từng bước. Ngài nhập Tứ thiền hữu sắc bắt đầu từ Sơ thiền, rồi đến nhị thiền, tam thiền rồi đến tứ thiền, cứ trở đi trở lại cho đến lần cuối thì Ngài nhập diệt.

Khi ấy, Tôn giả Anonh vẫn chưa đắc quả A la hán, ngài liền hỏi đức Anuroutdha rằng đức Phật đã nhập diệt chưa.

“Đức Phật sinh ra ở dưới cội cây Sara vào ngày rằm tháng Sáu. Đức Phật đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác dưới cội cây Bồ đề vào ngày rằm tháng Sáu. Và giờ đây, đức Phật nhập Niết bàn dưới cội cây Sara cũng vào ngày rằm tháng Sáu. Bởi vậy, ngày này đã trở thành ngày quan trọng nhất của đạo Phật'.

 

Lễ hỏa táng Đức Phật

Đức Phật nhập Niết bàn khiến chúng đệ tử than khóc đau buồn. Với những đệ tử đã đắc quả A la hán, sự tiếc thương này có phần đỡ hơn. Nhưng đối với những đệ tử vẫn chưa đắc quả A la hán thì sự đau buồn này không thể nào kể xiết. Trong suốt bảy ngày sau đó, các quốc vương và hàng vạn tín đồ đến mang theo năm trăm bộ y vàng cùng rất nhiều hoa thơm để trải lên chỗ nằm của đức Phật. Đến ngày thứ tám (ngày trăng tàn), thi hài đức Phật được đưa về chùa Makoutdhaphandha để làm lễ hoả táng.

Về y phục của đức Phật, Tôn giả Anonh đã dặn đức vua dùng vải lụa tốt nhất bao quanh thánh thể đức Phật hai lớp, sau đó dùng dây tốt quấn quanh năm trăm vòng rồi đặt vào trong linh cữu bằng vàng, sau đó đưa linh cữu lên hỏa đài. Hỏa đài được làm toàn bằng gỗ đàn hương, cao 120 hắc tay. Đức vua bắt đầu làm lễ hoả táng, nhưng ngài không sao châm lửa được. Khi được hỏi, Tôn giả Anonh mới giải thích rằng Chư Thiên, Phạm Thiên bảo vệ thi hài đức Phật là để chờ vị Đại đệ tử Ma ha Ca diếp (Maha Kassapa) về. Vào ngày đó, đức Ma ha Ca diếp cùng 500 đệ tử khác của đức Phật đang trên đường đến nơi đức Phật nhập Niết bàn để tỏ lòng tôn kính, nhưng không kịp. Khi nghe tin đức Phật đã nhập diệt được bảy ngày, một số đệ tử do đích thân đức Phật thụ phong đã nằm vật trên đất khóc than vì đã mất đi vị Đại đạo sư đáng tôn kính nhất. Còn đối với các đệ tử Kinasava (đã đắc quả A la hán) cũng cảm thấy rất buồn. Trong số các đệ tử này, có một vị tên là Suphatdha, đã nói với các đệ tử khác rằngTại sao chúng ta lại phải buồn khổ than khóc? Chẳng phải giờ đây chúng ta đã thoát khỏi uy quyền của đức Phật sao? Khi còn sống, Ngài lúc nào cũng giáo huấn chỉ bảo chúng ta. Giờ đây đức Phật đã nhập diệt, chúng ta có thể làm những gì chúng ta muốn mà không sợ có ai ngăn cản .”

 

 

Ảnh - Lễ hỏa táng Đức Phật

Đức Ma ha Ca diếp đã khuyên các môn đệ khác bằng kinh Buddha Dhamma Katha để họ vợi bớt nỗi buồn và tiếp tục lên đường đến chùa Makoutdhaphandha. Khi đến nơi, đức Ma ha Ca diếp đảnh lễ trước linh cữu và đi ba vòng quanh hỏa đài rồi nói “Bạch đức Phật, đệ tử là Ma ha Ca diếp được ngài đưa vào hàng đại đệ tử cao quý về Hành Thiền Pháp. Nếu ngài chiếu cố đến lòng tôn kính nhất của đệ tử đối với ngài, xin cho hai bàn chân của ngài hãy đặt lên hai bàn tay của đệ tử đang lễ ngài đây”. Bỗng nhiên, như có phép màu, hai bàn chân của đức Phật ló ra khỏi lớp vải lụa và năm trăm vòng dây đặt trên tay đại đức Ma ha Ca diếp. Khi ấy đại đức Ma ha Ca diếp lại bạch tiếp “Kể từ ngày đệ tử theo hầu ngài trên thế gian này, chưa bao giờ không vâng lời ngài dạy bảo, nhưng đệ tử chưa có cơ hội được hầu hạ bên ngài, vậy đệ tử xin ngài từ bi tha thứ cho.” Sau khi dứt lời và đảnh lễ trước đức Phật, bỗng nhiên hai bàn chân của ngài tự động rút vào và lửa bùng cháy.

Bảy ngày sau lễ hỏa táng, các vị vua đã thu thập xá lợi của đức Phật đặt lên mình voi rồi tổ chức lễ rước xá lợi về cung. Xá lợi được đặt trên ngai Rattana được trang hoàng rất lộng lẫy. Lễ cúng xá lợi kéo dài bảy ngày.

Vậy là, ngày Atdha, ngày mùng 8 tháng 6 là ngày hỏa táng của đức Phật, ngày này cũng được coi là một trong những ngày quan trọng nhất của Phật giáo cho đến ngày nay.

 

Những việc xảy ra trong bảy ngày sau lễ hỏa táng đức Phật

Bảy ngày sau lễ hỏa táng đức Phật đã xảy ra xích mích giữa các vị vua của bảy nước láng giềng về việc phân chia xá lợi. Đó là: 1 - Vua thành Ka tỳ la vệ, 2 - Vua Asatsatrou của thành Vương Xá, 3 - Vua Lijasavy của thành Vesaly, 4 - Vua Dhila của thành Ullakappa, 5 - Vua Koliyavong của thành Ramkham, 6 - Vua Maha Brahma của thành Vettadhipaka và 7 - Vua thành Pava. Tất cả các vị vua này đều là phật tử và đều đã thọ tam quy. Sau khi đức Phật nhập cõi Niết bàn, thay vì phải tiếp tục hành theo giáo lý của ngài, họ lại trở nên tham lam ích kỷ và quyết tâm giành bằng được xá lợi của đức Phật. Bởi vậy đã bùng nổ cuộc chiến tranh xung quanh việc phân chia xá lợi. May mắn thay, vào lúc đó, một vị Bà la môn tên là Dhona đã đến tâu với bảy đức vua rằng “Muôn tâu bệ hạ, đức Phật không chỉ là bậc Đại đạo sư của chúng ta mà còn là bậc Đại đạo sư của toàn cõi thế gian này, tất cả chúng ta đều là phật tử. Chúng ta không được quên những lời giáo huấn của ngài rằng Giáo pháp phù trợ thế gian. Chúng ta nên sống và tỏ lòng tôn kính thay vì hủy hoại những Giáo pháp mà ngài để lại. Điều này có thể được chăng? Chúng ta nên cùng nhau bàn bạc thay vì chém giết lẫn nhau bởi tất cả chúng ta đều là những môn đệ của ngài.” Lời nhắc nhở của Bà la môn Dhona đã cảnh tỉnh các vị vua, họ đồng ý hòa hợp và cùng nhau phân chia xá lợi, mang phần xá lợi nhận được về vương quốc để cúng lễ cho đến ngày nay.

Cuối cùng, tôi xin gửi lại các chư vị phật tử câu chuyện về Đức Phật Tổ Cồ Đàm Tất Đạt Đa để quý vị có thể thực sự hiểu được bản chất cốt lõi của đạo Phật (Tôi không có ý định biên soạn cuốn sách này cho hàng học giả). Tôi cũng xin được cầu chúc tất cả những người đã thực hành theo Giáo Pháp của Đức Phật, bậc Đại Đạo Sư đã được biết đến trong suốt 2541 năm qua, luôn được an khang, thịnh vượng và sống lâu. Sadhu Anumodhami.

Messrs Khamphoua Naovarangsy và Thou Maharath là những vị đã trợ giúp đắc lực cho tôi trong chuyến hành đạo đến Mỹ.

Sadhu Anumodhami – Cầu chúc cho tất cả mọi người được hạnh phúc
LuongTa Chanhphy Panyano Manivong
21 tháng 3 năm 1998

Địa chỉ những người hỗ trợ chính tại Mỹ

KHAMPOUA NAOVARANGSY

70 Linwood Street

Malden, Massachusetts 02148

Telephone: (781) 321-3724

THOU MAHARATH

72 Linwood Street

Malden, Massachusetts 02148

Telephone: (781) 397-9802

 

First Sanghayana (Monks’ Meeting)

HỘI NGHỊ ĐẦU TIÊN CỦA CHƯ TĂNG

Bảy ngày sau khi đức Phật nhập cõi Niết bàn, Chư tăng nội bộ bắt đầu có dấu hiệu mâu thuẫn. Bởi vậy, Đại hoà thượng Ma ha Ca diếp đã tổ chức hội nghị mời tất cả các vị chư Tăng đến tham dự. Đây là hội nghị đầu tiên dành cho Chư Tăng. Mục đích của hội nghị này là phân loại Giáo pháp của đức Phật thành nhiều nhóm khác nhau.

 

Những điểm chính của Hội nghị đầu tiên

  1. Hội nghị đầu tiên được tổ chức trong một cái hang nằm phía trên tịnh xá Trúc Lâm ở thành Vương Xá, Vương quốc Makhot;
  2. Đại đức Ma ha Ca diếp chủ trì hội nghị, đức Oubaly đảm trách việc giảng giải Luật tạng, còn đức Anonh đảm trách việc giảng giải Pháp giáo;
  3. Đức vua Asat Satrou là người bảo trợ;
  4. Có 500 vị Tăng đến tham dự;
  5. Ra quyết định về hành động sai trái của đức Anonh, Anonh phải chịu xử phạt. Hành động của Anonh đã gây ra những lời chỉ trích, mâu thuẫn cho Phật giáo. Là thầy truyền giới, lẽ ra đức Anonh không nên hành xử như vậy;
  6. Trừng phạt đức Xa nặc. Xa nặc phải chịu phạt vì đã không tuân theo Giới luật. Sự kiện rất có ý nghĩa vì nó cho thấy rằng Giới luật phải được tôn trọng và tuân thủ nghiêm ngặt. Bởi vậy, khi đã là môn đệ của Phật, bất cứ ai không tuân theo Giới luật đều sẽ bị trừng phạt, không kể người đó ở vị trí cao hay thấp trong tăng chúng. Đây là Giới luật mà đức Phật đã đặt ra, bản thân ngài cũng phải tuân theo;
  7. Đức Pourana phản đối hội nghị;
  8. Mục đích của Hội nghị là phân loại Giáo pháp của đức Phật thành các nhóm khác nhau để đạo Phật có thể tiếp tục được duy trì;
  9. Hội nghị được tổ chức ba tháng sau lễ Đại nhập diệt của đức Phật;
  10. Hội nghị diễn ra trong suốt mùa mưa và kéo dài bảy tháng;
  11. Khi hội nghị kết thúc, tăng chúng đã tổ chức tiệc mừng kéo dài trong sáu tuần.

Những thành tựu của Hội nghị đầu tiên

  1. Đã phân loại thành công Giáo pháp của đức Phật thành nhiều nhóm;
  2. Quyết định về hành động sai trái của đức Anonh và hình phạt đối với đức Xa Nặc, đã tạo tiền đề tốt, thể hiện sự rõ ràng, dân chủ trong Pháp và Luật;
  3. Giáo pháp của đức Phật đã được thiết lập và duy trì cho tới ngày nay;
  4. Hội nghị thành công tốt đẹp, tạo nền móng cho các hội nghị diễn ra sau này.

Wat Lao Buddhanimit Canberra’ Australia
Dated 9.12.1992
Written by LuongTa Chanhphy Panyano Manivong
PO Box 814
CAMPBELLTOWN NSW 2560
AUSTRALIA
Tel: 0419 224650

 

Ghi chú : Mọi chi phí tổ chức Hội nghị đều do nhà vua Asat Satrou đảm nhận. Đó là do ngài vẫn còn cảm thấy hối hận vì đã hợp tác với Devadhat âm mưu ám sát đức Phật. Ngài đã nhận ra lỗi lầm và xin được đóng góp công sức cho Phật giáo cũng như những hội nghị diễn ra sau này.



Tôi rất hạnh phúc được gửi đến quý vị câu chuyện về cuộc đời của đức Phật.

Bất kỳ ai muốn tìm hiểu về cuộc đời của đức Phật đều có thể đọc cuốn sách này.

Tôi muốn gửi đến quý vị những lời chúc tốt đẹp nhất mà tôi đã viết trên trang Web của tôi về đạo pháp.

Trong tương lai, tôi sẽ còn viết thêm nữa về Pháp giáo của đức Phật để quý vị có thể tăng vốn hiểu biết của mình, nhờ đó có thể có thêm nhiều hạnh phúc trong cuộc sống.

Cảm ơn quý vị đã đọc cuốn sách của tôi. Xin được cầu chúc cho mọi chúng sinh trên thế gian này được hạnh phúc và hãy luôn tự bảo trọng.

 

CUỐN SÁCH LỊCH SỬ CỦA ĐỨC PHẬT TỔ THÍCH CA MÂU NI

Đã HOÀN THÀNH XONG vậy TÔI XIN KÍNH BIẾU

 

Xin kính thưa Tăng ni, và Phật tử, các cháu Bạn thân thuộc, Tôi hân hạnh xin mang Lịch Sử của Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu ni, Mà tôi đã cống hiến thì giờ và thời gian viết và gom góp, những lời truyền dạy của Đức Phật Tôi khởi nghĩa bắt đầu viết từ ngày 21st tháng March 1942 là ngày sinh nhật của tôi 21 tuổi, thời gian khá lâu, mãi cho đến ngày 21st tháng march 1998 là ngày sinh nhật của tôi 77 tuổi đã hoàn thành kết thúc Xong cuốn sách tên- Lịch Sử Đức Phật Tổ, “Siddhatha Khô Ta mã Sắc Khaya Mâu Ni Buddha”. Vậy tôi xin phép Đức Phật xin cung thỉnh Những lời truyền dạy của ngài, Xin kính Biếu tăng ni và nhà Chùa và Thư viện cùng thế giới, và toàn thể Phật Tử, Ai có lòng cầu mong cho mình được có một cuộc sống thịnh vượng hạnh phúc và yên vui, vậy tôi cầu xin cho toàn thể loài người sống trên trái đất của vũ trụ hoàn cầu này, cùng sống chung một bầu không khí và không gian, và tình thương yêu đùm bọc lân cận, để được cùng hưởng những tốt đẹp theo lời truyền dạy của Đức Phật, tôi xin trao tặng cuốn sách- Lịch Sử Đức Phật Tổ, và xin cầu mong cho mọi người gìn giữ bản mệnh, để thịnh vượng trường thọ, và gìn giữ lời truyền dạy của Đức Phật trong cuốn sách này, bằng một sự kính quý, vô giá, có nghĩa tôn thờ kính thưa bẩm dạ Đức Phật, và làm theo lời truyền dạy của ngài, để được hạnh phúc đời-đời kiếp-kiếp. Nam Mô bổn Sư thích Ca Mâu Ni Phật.

Tôi xin kính thưa nhận rõ đó là sự thật mà Thầy đã cống hiến cho giáo lý phật giáo. Vậy cá nhân Tôi Êkachai Sribănđitt xin thay mặt Thầy Luongta xin kính biếu toàn thể các Ngài, Ai đã có lòng mong muốn sự tốt đẹp và hạnh phúc theo lời truyền dạy của Đức Phật cho mình và cho người khác. Tôi cầu mong xin cho mọi người được hưởng mọi sự tốt đẹp mà lòng mong muốn đó. Xin kính lời

 

Xin cám ơn

Êkachai Sribănđitt

  Ngày 03 tháng Ba, Năm 2010

 

BACK